Archive for the tag 'xuân thu'



Bốn giềng mối

March 7th, 2008

 【四維】

 

管子國有四維:一維絕則傾,二維絕則危,三維絕則覆,四維絕則滅。傾可正也,危可安也,覆可起也,滅不可復錯也!何謂四維?一曰禮,二曰義,三曰廉,四曰恥。禮,不踰節;義,不自進;廉,不蔽惡,恥,不從枉。故不踰節,則上位安;不自進,則民無巧詐;不蔽惡,則行自全;不從枉,則邪事不生。

 

Tứ duy

 

Quản Tử

Quốc hữu tứ duy : nhất duy tuyệt tắc khuynh , nhị duy tuyệt tắc nguy , tam duy tuyệt tắc phúc , tứ duy tuyệt tắc diệt 。 Khuynh khả chính dã , nguy khả an dã , phúc khả khởi dã, diệt bất khả phục thố dã ! Hà vị tứ duy ? Nhất viết lễ , nhị viết nghĩa , tam viết liêm, tứ viết sỉ 。 Lễ , bất du tiết ; nghĩa , bất tự tiến ; liêm , bất tế ác , sỉ , bất tòng uổng 。 cố bất du tiết , tắc thượng vị an ; bất tự tiến , tắc dân vô xảo trá ; bất tế ác , tắc hành tự toàn ; bất tòng uổng , tắc tà sự bất sinh 。

【Quản Tử: Mục dân】

 

Tác giả – Tác phẩm

quantrongSách Quản Tử tương truyền là tác phẩm của Quản Trọng (mất năm 645 trước CN). Tác giả tên thật là Di Ngô, tự là Trọng, người đất Dĩnh Thượng, một chính trị gia lỗi lạc đầu thời Xuân thu, từng giúp cho Tề Hoàn Công làm nên bá nghiệp. Sách Quản Tử ban đầu có đến 380 thiên, đến đời Hán được Lưu Hướng chỉnh lý còn 86 thiên (bản hiện lưu hành chỉ còn 76 thiên, mất 10 thiên). Bài nầy trích trong thiên “Mục dân”, thiên đầu tiên của sách Quản Tử, nêu bốn giềng mối làm nền tảng cho một quốc gia.

 –

 

TỪ NGỮ:

Duy: dây buộc mui xe, dây ở bốn góc lưới, giềng mối.
Tuyệt: đứt
Khuynh: nghiêng
Nguy: nguy hiểm
Phúc: lật đổ
Diệt: tắt, mất, diệt
Thố: thu xếp, xếp đặt, đặt để
Lễ: thái độ hợp với lý lẽ và phép tắc, điều lễ.
Nghĩa: hành vi chánh đáng, điều nghĩa
Liêm: trong sạch, liêm khiết
Sỉ: lòng thẹn
Du tiết: vượt khuôn phép
Tự tiến: luồn cúi để tiến thân
Uổng: cong quẹo, không ngay thẳng
Xảo trá: giả dối
Hạnh: phẩm hạnh
Tự toàn: tự nhiên toàn vẹn
: gian tà, bậy bạ

NGỮ PHÁP:

Chính 正: làm cho ngay chính (hình dung từ dùng như động từ)
Hà vị: thế nào gọi là (cụm từ quen dùng, để hỏi)
Viết: gọi là, là (động từ nội động không hoàn toàn, dùng trong một đoạn liệt kê)

DỊCH NGHĨA:

Bốn giềng mối

duyNước có bốn giềng mối: một giềng mối đứt thì nghiêng, hai giềng mối đứt thì nguy, ba giềng mối đứt thì đổ, bốn giềng mối đứt thì mất. Nghiêng thì có thể làm cho thẳng được, nguy thì có thể làm cho yên được, đổ thì có thể dựng lên được, mất thì không thể đặt lại được.
Thế nào gọi là bốn giềng mối? Một là lễ, hai là nghĩa, ba là liêm, bốn là sỉ.
Lễ là không vượt khuôn phép, nghĩa là không tự luồn lụy để tiến thân, liêm là không che việc xấu, sỉ là không theo điều tà vạy (cong quẹo bất chính). Cho nên không vượt khuôn phép thì ngôi trên yên; không luồn lụy để tiến thân thì dân không xảo trá; không che việc xấu thì phẩm hạnh tự nhiên toàn vẹn; không theo điều tà vạy thì việc bậy bạ không nảy sinh.

Trần Văn Chánh dịch

THIÊN THƯỢNG 3

December 8th, 2007

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG BA

不尚賢,使民不爭﹔不貴難得之貨,使民不為盜﹔不見可欲,使民心不亂。是以聖人之治,虛其心,實其腹﹔弱其志,強其骨。常使民無知無欲。使夫不敢為也,為,則無不治。

PINYIN

bù shàng xián,shǐ mín bù zhēng﹔bù guì nándé zhī huo,shǐ mín bù wèi dào﹔bùjiàn kě yù,shǐ mínxīn bù luàn。shì yǐ shèngrén zhī zhì,xū qí xīn,shí qí fù﹔ruo qí zhì,qiáng qí gǔ。cháng shǐ mín wúzhī wú yù。shǐ fū zhì zhě bù gǎn wèi yě,wèi wú wèi,zé wú bù zhì。

PHIÊN ÂM

Bất thượng hiền, sử dân bất tranh ﹔bất quý nan đắc chi hoá, sử dân bất vi đạo ﹔bất kiến khả dục , sử dân tâm bất loạn.  Thị dĩ thánh nhân chi trị , hư kì tâm , thực kì phúc ﹔nhược kì chí , cường kì cốt .  Thường sử dân vô tri vô dục , sử phù trí giả bất cảm vi giả, vi vô vi ,tắc vô bất trị.

ANH NGỮ

If you do not adulate the worthy…
If you do not value rare treasures, you will stop others from stealing.
If people do not see desirables, they will not be agitated.
Therefore, when the sage governs,
He clears peoples minds,
Fills their bellies,
Weakens their ambition and
Strengthens their bones.
If the people are kept without cleverness and desire
It will make the intellectuals not dare to meddle.
Acting without contrivance, there is no lack of manageability.

Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

Không trọng người hiền để cho dân không tranh.  Không quý của hiếm để cho dân không trộm cướp, không phô bày cái gì gợi lòng ham muốn, để cho lòng dân không loạn.  Cho nên, chính trị của thánh nhân là làm cho dân: lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, tâm chí thì yếu [không ham muốn, không tranh giành], xương cốt thì mạnh.  Khiến cho dân không biết, không muốn, mà bọn trí xảo không dám hành động.  Theo chính sách “vô vi” thì mọi việc đều trị.

LỜI BÀN

laozi

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

Chương này ý nghĩa thật rõ.  Lão Tử cho lòng ham muốn danh lợi là đầu mối của loạn.  Nho, Mặc đều trọng hiền (Luận ngữ, thiên Tử Lộ, khuyên “đề cử  hiền tài” ; Lễ ký, thiên Lễ vận chủ trương “tuyển hiền dữ năng”; còn Mặc Tử thì có thiên Thượng hiền), khiến cho dân thèm khát danh lợi, dùng trí xảo để tranh nhau danh lợi.  Ông chê lối trị dân đó, bảo bậc thánh nhân (thánh nhân theo quan niệm của ông, chứ không phải hạng thánh nhân theo quan niệm Khổng Mặc) chỉ cần lo cho dân đủ ăn, khỏe mạnh, thuần phác (vô tri) không ham muốn gì cả (vô dục), như vậy là vô vi mà nước sẽ trị.

 Lê Hòa Phong diễn giải [trích nghiệm giải Đạo Đức Kinh – NXB Đồng Nai 2011]

Hiền tài là nguyên khí quốc gia mà không tôn trọng sao? Xin thưa: Thời của Lão Tử là thời chiến tranh khốc liệt nhất của Trung Quốc (thời Xuân Thu sang thời Chiến quốc kéo dài trên 500 năm). Văn thì mưu lược còn Võ thì gan lì, tàn bạo giỏi võ nghệ chỉ để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Như Lưu Bang cam phận ở Tây Thục hòa cùng Hạng Vũ, nhưng khi thu nạp được Hàn Tín thì khởi cuộc đao binh, tiến đánh Hạng Vũ, chiếm lấy nước Sở. Vả lại khi Hàn Tín lúc trai trẻ không hề muốn làm ruộng hay làm thợ để sinh sống mà chỉ nghĩ đến cách bày binh bố trận nên Tín nghèo không đủ cơm mà ăn, phải nhờ cơm của bà già làm nghề giặt lụa. Đến khi thắng Sở, Hàn Tín được cắt đất phong làm vua nước Tề (Tề Vương,) dân chúng thời ấy luôn mơ ước thèm khát luôn không lo làm nông, làm công mà cứ hun chí lập công bằng cách biến thành hiền tài để vua chúa trọng dụng. “Yếu cái chí” là như vậy. Vì thời ấy đất nước nghèo một phần cũng là do thiếu người sản xuất. Lòng luôn ao ước mong tưởng chuyện lên rừng xuống biển tìm báu vật hay thuốc trường sinh ,học binh thư hay luyện võ nghệ để rạng rỡ tông môn, làm giàu không bằng cách lao động, mà chỉ dùng trí khôn của họ lừa gạt kẻ khác. Nếu người cầm quyền biết nghĩ ngợi “Vô vi” tìm ra những phương cách theo đường lối của Đạo là thương dân, lo lắng cho cuộc sống của nhân dân thì không gì mà không yên . Nếu dân biết sống đủ, biết rèn cái tâm bình thản thì sẽ không có chuyện xấu nào nảy sinh.
Lão Tử thấy rõ con đường dẫn đến những tranh đoạt của con người từ vua đến quan luôn cả dân là muốn tìm danh vị bằng cách dùng vũ lực và bằng mưu trí, vì vua tôn quý hiền tài, khiến nhân dân luôn lo học võ nghệ và trau giồi trí xảo. Lão Tử muốn mọi người, nhất là kẻ trí phải biết cách hướng đến một sự ổn định trong tâm, làm cho đất nước được an trị trên sự yêu thương và bình đẵng.



Giới Chi Thôi bất ngôn lộc

December 2nd, 2007

TẢ TRUYỆN 

 

介之推不言祿

Giới Chi Thôi晉侯賞從亡者;介之推不言祿,祿亦弗及。推曰:「獻公之子九人,唯君在矣(焉)。惠、懷無親,外內棄之。天未絕晉,必將有主。主晉祀者,非君而誰?天實置之,而二三子以為己力,不亦誣乎!竊人之財,猶謂之盜;況貪天之功,以為己力乎?下義其罪,上賞其奸,上下相蒙,難與處矣!」
其母曰:「盍亦求之,以死誰懟?」對曰:「尤而效之,罪又甚焉!且出怨言,不食其食。」其母曰:「亦使知之,若何?」對曰:「言,身之文也,身將隱,焉用文之?是求顯也。」其母曰:「能如是乎?與汝偕隱。」遂隱而死。晉侯求之不獲,以緜上為之田。曰:「以志吾過,且旌善人。」

左傳:僖公二十四年 

 

Giới Chi Thôi bất ngôn lộc 

 

 

Tấn hầu thưởng tòng vong giả;Giới Chi Thôi bất ngôn lộc ,lộc diệc phất cập. Thôi viết :”hiến công chi tử cửu nhân ,duy quân tại hĩ (yên ). Huệ, Hoài vô thân ,ngoại nội khí chi .thiên vị tuyệt tấn ,tất tướng hữu chủ. Chủ tấn tự giả, phi quân nhi thuỳ ? Thiên thực trí chi, nhi nhị tam tử dĩ vi kỉ lực, bất diệc vu hồ !thiết nhân chi tài, do vị chi đạo;huống tham thiên chi công, dĩ vi kỉ lực hồ ? Hạ nghĩa kì tội, thượng thưởng kì gian, thượng hạ tương mông, nan dữ xứ hĩ!”
Kỳ mẫu viết :”Hạp diệc cầu chi, dĩ tử thuỳ đỗi ?” Đối viết :”Vưu nhi hiệu chi ,tội hựu thậm yên !Thả xuất oán ngôn, bất thực kì thực.” Kỳ mẫu viết :”Diệc sử tri chi, nhược hà ?” Đối viết :”Ngôn, thân chi văn dã, thân tướng ẩn, yên dụng văn chi ? Thị cầu hiển dã.” Kỳ mẫu viết :”Năng như thị hồ ? Dữ nhữ giai ẩn.” Toại ẩn nhi tử.
Tấn hầu cầu chi bất hoạch, dĩ Miên Thượng vi chi điền, viết :”Dĩ chí ngô quá ,thả tinh thiện nhân”.

[Tả truyện: Hi công nhị thập tứ niên]

 

Tác giả – Tác phẩm

 

Tả truyện là tác phẩm lịch sử hoàn chỉnh có lối kể chuyện chi tiết đầy đủ và sinh động nhất của Trung Quốc cổ đại. Về tác giả và thời đại của sách nầy, có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng thuyết được chấp nhận phổ biến nhất cho rằng đó là tác phẩm của Tả Khâu Minh, một sử quan của nước Lỗ thời Xuân Thu, sau được nhiều người bổ sung thêm. Phần lớn người ta đều cho rằng Tả truyện là một quyển sử độc lập, nhưng cũng có người cho nó là sách diễn giải kinh Xuân thu – một bộ sử biên niên của nước Lỗ. Niên đại ghi chép trong Tả truyện về cơ bản tương ứng vời kinh Xuân thu, cả hai đều khởi đầu từ năm 722 trước CN (đời vua Ẩn công nước Lổ năm đầu), nhưng năm cuối cùng của Tả truyện so với kinh Xuân thu trễ đi 28 năm, tức dừng lại ở năm 453 trước CN. Về nội dung, Tả truyện ghi chép lại khá đầy đủ và tương đối có hệ thống những sự kiện liên quan đến chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa của các nước thời Xuân thu (770-476 trước CN), trong chừng mực nhất định đã phản ảnh một cách trung thực bộ mặt của thời đại nầy, trở thành tác phẩm lịch sử rất có giá trị đối với việc nghiên cứu xã hội Trung Quốc cổ đại.
Bài trên đây là một đoạn trích trong sách Tả truyện, thuộc niên đại vua Hi công năm thứ 24, ghi lại đoạn đối thoại giữa Giới Chi Thôi với bà mẹ khi quyết định cùng mẹ từ chối lộc vua bỏ đi ở ẩn cho đến chết, và thái độ hối cải của Tấn Văn Công.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Vua Tấn thưởng những người tòng vong mà quên Giới Chi Thôi. Thôi không nhắc vua, nên không được tước lộc. Thôi nói: “Vua Hiến Công có chín người con, nay chỉ còn một mình nhà vua… Trời chưa muốn tuyệt nhà Tấn, tất cho người làm chủ.
Ngoài Văn công ra, còn ai đáng coi việc tế tự nước Tấn? Vậy trời đã sắp đặt như thế nào mà hai ba ông kia (chỉ những người tòng vong mà được thưởng tước lộc) lấy làm sức của mình, chẳng phải là tự dối mình ư? Lấy trộm tiền của người, còn gọi là kẻ trộm, huống tham công của trời mà nhận làm công của mình ư? Tham công trời là tội mà bề dưới (cũng chỉ những người tòng vong đó cho là việc nghĩa, còn bề trên thì thưởng lòng gian ấy; thế là trên dưới che đậy lẫn cho, khó ở với nhau lâu được”.
Bà mẹ Giới Chi Thôi nói:
– Con thử xin lộc đi; không xin rồi con có chết, ai vì con mà trách nhà vua?
Thôi đáp:
– Đã chê bọn bề tôi kia mà bắt chước họ thì tội còn nặng hơn. Vả lại mình đã có lời oán vua thí không nên nhận lộc nữa.
Bà mẹ nói:
– Cũng cứ cho vua hay đi, nên không?
Thôi đáp:
– Lời nói là văn của con người. Thân đã sắp đi ẩn mà còn dùng lời nói tô điểm con người làm chi? Như thế là cầu vinh hiển đó.
Bà mẹ nói:
– Con thiệt được như vậy sao? Thôi mẹ con ta cùng ẩn.
Rồi hai người cùng đi ẩn và chết.
Vua Tấn cho tìm không được, lấy đất Miên Thượng là ruộng cúng tế Giới Chi Thô và nói: “Như vậy để ghi lỗi của ta và nêu gương một người hiền”.

Nguyễn Hiến Lê dịch

 

BÀI ĐỌC THÊM

Trích Hồi 37  –  Ðông Châu Liệt Quốc
Giới Tử-Thôi cõng mẹ từ quan


Khi Tấn Văn-Công ban thưởng triều thần, không thấy Giới Tử-Thôi nhưng cũng quên đi, không ai nhắc đến.

Người láng giềng bên nhà Giới Tử-Thôi là Giải-Trương thấy vậy đến nói với Giới Tử-Thôi :
– Ngài cũng có công theo phò Chúa-công trong mười chín năm trời, nay Chúa-công phục nghiệp, lẽ nào lại không hưởng chút công lao ?

Mẹ Giới Tử-Thôi nói :
– Nhà mình nghèo khổ, trước kia con đã cắt thịt đùi để nuôi chúa trong cơn cùng khổ, sao bây giờ không nói ra, may nhận được vài thùng thóc chẳng hơn đi vá giày thuê ư ?

Giới Tử-Thôi nói :
– Tấn Hiến-Công xưa có chín người con, chỉ có Chúa-công là hiền hơn cả. Nay Chúa-công phục-nghiệp ấy là do trời muốn. Các người theo hầu không biết, tự nhận công lao mình, con thấy xấu hỗ lắm.

Bà mẹ nói :
– Con đã là người trọng liêm sĩ, mẹ đây há lại không làm được người mẹ của người biết trọng liêm sĩ sao. Vậy thì mẹ con ta tìm nơi rừng núi sống ẩn dật, chớ nên sống giữa cảnh thị thành nầy.

Nghe mẹ nói, Giới Tử-Thôi mừng lắm, nói :
– Con vẫn thích chốn Miên-Thượng là nơi núi cao, hang sâu , vậy mẹ con ta đến đó mà ở.

Nói rồi, cõng mẹ đến đất Miên-Thượng, làm nhà trong hang đá nương náu.

Láng giềng hàng xóm không biết Giới Tử-Thôi đi đâu cả. Riêng có một mình Giải-Trương biết mà thôi.

Giải-Trương nghĩ tới cảnh bạc bẻo, động lòng liền lén viết một mảnh giấy, thừa lúc đêm tối đem treo nơi cửa thành.

Mảnh giấy viết như sau :
“Có một con rồng, lúc thất thế đàn rắn đi theo, chu du thiên hạ. Rồng đói, một rắn xẻ thịt đùi nuôi. Ðến khi rồng mây gặp hội, đàn rắn hưởng cảnh sung sướng. Chỉ có một rắn chẳng ai hỏi đến.”

Sáng hôm sau quân sĩ trông thấy, đem trình Tấn Văn-Công.

Tấn Văn-Công đọc xong giật mình nói :
– Ðây là Giới Tử-Thôi oán giận ta đó. Khi trước qua nước Vệ, Giới Tử-Thôi cắt thịt đùi nấu cháo cho ta ăn, nay ta ban thưởng công-thần mà quên mất Giới Tử-Thôi, ấy là một điều lỗi lớn !

Tấn Văn-Công liền sai người đến triệu Giới Tử-Thôi, nhưng Giới Tử-Thôi đã cõng mẹ đi mất rồi !

Tấn Văn-Công lại bắt những người láng giềng đến hỏi, nhưng không ai rõ Giới Tử-Thôi đi đâu cả.

Tấn Văn-Công truyền rằng :
– Hễ ai biết được Giới Tử-Thôi đi đâu thì sẽ được phong làm quan.

Giải-Trương đến yết kiến Tấn Văn-Công tâu :
– Bức thư đó không phải của Giới Tử-Thôi chính là tôi đã viết thay đó ! Giới Tử-Thôi không muốn cầu thưởng, cõng mẹ vào ẩn trong hang núi Miên-Thượng. Tôi viết bức thư ấy cốt nhắc cho Chúa-công nhớ.

Tấn Văn-Công nói :
– Nếu không có bức thư của ngươi ta đã bội-nghĩa rồi !

Nói xong phong cho Giải-Trương làm chức Hạ Ðại-phu rồi khiến Giải-Trương dẫn đường đến Miên-Thượng mà tìm Giới Tử-Thôi.  Khi đến nơi, chỉ thấy núi xanh rừng rậm, nước chảy hoa trôi, chim hót véo von, mây che mù mịt, còn Giới Tử-Thôi không thấy đâu cả.

Quân-sĩ bắt mấy người nông-phu gần đấy hỏi.

Nông phu đáp :
– Mấy hôm trước chúng tôi có thấy một người cõng bà cụ già đến đây, ngồi nghỉ nơi chân núi rồi chẳng biết đi về đâu.

Tấn Văn-Công truyền đỗ xe dưới chân núi rồi sai người đi tìm.

Qua mấy ngày, quân-sĩ lục-lạo khắp nơi, vẫn không tìm được tông tích.

Tấn Văn-công nói :
– Ta nghe Giới Tử-Thôi là người chí hiếu, nay cõng mẹ vào rừng, lại giận ta không chịu ra yết kiến, bây giờ ta phóng hỏa đốt rừng thế nào Giới Tử-Thôi cũng cõng mẹ chạy ra.

Ngụy-Thù nói :
– Trong bọn tòng-vong nhiều người có công lao, nay Giới Tử-Thôi ỷ mình có chút công mọn làm khổ đến Chúa-công, để hắn tránh lửa, cõng mẹ ra đây, tôi mắng cho xấu hỗ.

Nói xong, Ngụy-Thù truyền quân-sĩ phóng hỏa khắp khu rừng.  

Lửa to gió mạnh, cháy lan đến mấy dặm. Trong ba ngày lửa mới tắt.
Thế mà Giới Tử-thôi vẫn nhất định không ra. Hai mẹ con ôm nhau chịu chết dưới gốc cây liễu.

Quân sĩ tìm được xác chết, báo lại với Tấn Văn-Công.

Tấn Văn-Công ứa nước mắt, truyền lập miễu mà thờ, đổi tên núi là Giới-Sơn.

Tấn Văn-Công ở đó lo việc chôn cất xong xuôi, lấy ruộng xung quanh núi đặt lảm ruộng tế điền rồi mới truyền hộ giá về triều .

Người sau có bài thơ nói đến cái chết của Giới Tử-Thôi :

Cắt thịt nuôi vua nặng mối tình
Không tham danh lợi để cầu vinh
Giữ câu tiết nghĩa tròn trung hiếu
Còn kể làm chi việc tử-sinh !