Archive for the tag 'văn ngôn'



Mãi lý

March 23rd, 2008

【買履】

韓非子

鄭人有欲買履者。先自度其足而置之其坐。至於市而忘操之。已得履,謂曰:『吾忘持度』。返歸取之。及返市罷,遂不得履。
人曰:『何不試之以足?』。曰:『寧信度,無自信也』。

PHIÊN ÂM

Mãi lý

Trịnh nhân hữu dục mãi lý giả 。 Tiên tự đạc kì túc nhi trí chi kì tọa 。 Chí ư thị nhi vong thao chi 。 Dĩ đắc lí , vị viết :『 Ngô vong trì độ 』。 Phản quy thủ chi 。 Cập phản thị bãi , toại bất đắc lí 。 Nhân viết :『 hà bất thí chi dĩ túc ?』。 viết :『 Ninh tín độ , vô tự tín dã 』。

【Hàn Phi Tử】

Tác giả – Tác phẩm

Bài nầy trích trong thiên “Ngoại trữ thuyết tả thượng” sách Hàn Phi Tử, cũng là một ngụ ngôn phê phán tính câu nệ không biết biến thông của con người.

NGỮ PHÁP

Cập [jí]: đến khi (giới từ), and
Toại [suì]: cuối cùng, bèn (phó từ), then; thereupon –> từ trong văn ngôn 文言
Ninh 寧 [nìng]: thà (phó từ – biểu thị sự lựa chọn) prefer, rather, would rather, could be there –> từ trong văn ngôn 文言

TỪ NGỮ

Thị [shì]: chợ, market. Chữ này rất dể bị nhầm với chữ phất 巿
Trịnh [zhèng]: nước Trịnh (thời Chiến Quốc), surname
[lǚ]: giày, shoes
Đạc 度 [dù][duó]: đo (chữ này còn đọc là “độ” khi dùng như danh từ với nghĩa là “đồ đo, số đo”
Thao [cāo]: cầm, nắm, giữ, grasp; hold
Bãi [bà]: nghỉ, bãi, STOP

DỊCH NGHĨA

Mua giày

mailyCó người nước Trịnh muốn mua giày. Trước tiên tự đo lấy chân mình rồi đặt ở chỗ ngồi. Đến chợ quên cầm theo. Khi đã tìm được giày rồi, anh ta nói: “Tôi quên cầm theo ni giày”. Bèn trở về lấy ni giày. Đến khi trở lại thì chợ đã nghỉ bán, cuối cùng vẫn không mua được giày.
Có người nói: “Sao không thử giày bằng chân?”. Anh ta đáp: “Thà tin vào ni giày, chứ không tin vào (chân) mình vậy”.

 

Trần Văn Chánh dịch

Tích thiện chi gia

November 30th, 2007

TỨ THƯ – NGŨ KINH

KINH DỊCH

積善之家

積善之家,必有餘慶﹔積不善之家,必有餘殃。臣弒其君,子弒其父,非一朝一夕之故,其所由來者漸矣,由辯之不早辯也。《易》曰:履霜堅冰至。蓋言順也。

Tích thiện chi gia

“Tích thiện chi gia,tất hữu dư khách﹔tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương. Thần thí kì quân, tử thí kì phụ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố, kì sở do lai giả tiệm hĩ, do biện chi bất tảo biện dã.《Dịch》viết :’lí sương kiên băng chí.’ cái ngôn thuận dã.” 

Chu Dịch,
Quẻ Khôn, Văn ngôn truyện

 

Tác giả – Tác phẩm

Kinh Dịch (còn gọi là Chu Dịch) là một trong những bộ sách triết lý đồ sộ nhất của Trung Quốc cổ đại, được xếp vào hệ thống Ngũ kinh của Nho giáo.  Tương truyền Chu Dịch do Chu Văn Vương (khoảng thế kỷ 11 trước CN) làm ra, được Khổng Tử (551 – 479 trước CN) san định, dẫn giải.  Bài này trích trong Văn ngôn truyện của Quẻ Khôn, nói về luật tích tiệm.

DỊCH NGHĨA:

Nhà tích điều thiện
 
Nhà tích chứa điều thiện tất có phúc thừa về sau; nhà tích chứa điều ác tất có họa thừa về sau.  Bầy tôi giết vua, con giết cha, không phải nguyên do một sớm một chiều, nguồn gốc của nó là lần lần phát sinh ra, do không sớm nhận rõ thấy chân tướng vậy.  Kinh Dịch nói: Đạp lên sương thì biết sắp có băng cứng.  Đại để là phải thận trọng ngay từ trước.
 
Trần Văn Chánh dịch