Archive for the tag 'trung hòa'



THƯ PHÁP TỨC LÀ NGƯỜI

January 20th, 2008

image-3.jpg

image.jpg

Thư pháp thực sự là bức họa của tâm; mức độ chứng ngộ được biểu hiện qua dòng chảy của mực. Khi một ai cố gắng, một cách sai lầm để xóa bỏ những chữ do Vương Hy Chi (Wang Xizhi) viết, họ đều phát hiện rằng các chữ ấy đúng là đã thấm qua gỗ. Dù có đục sâu cỡ nào, cũng khó mà xóa được chúng.
Gần đây, những nghiên cứu của Tẻayama Katsuyo đã chỉ cho thấy rằng thư pháp thiền đúng thật là “sinh động”. Ông ta thu thập những tác phẩm thư pháp thiền đích thực, những bản giả mạo, và những bản sao chép từ những tác phẩm nầy, rồi khảo sát chúng bằng kính hiển vi điện tử, phóng lớn một phần của tác phẩm chừng 500 hoặc 100 lần. Những vết mực được phóng lớn của những thư pháp đích thực thì rung động mạnh mẽ, tràn đầy khí lực (ki), thiêng liêng bí ẩn; ngược lại, các vết mực của các thư pháp giả mạo hoặc sao chép thì phân tán, yếu ớt và thiếu sinh động. Thư pháp cũ dù có trải qua hằng trăm năm vẫn như vừa mới được viết lên, những dòng chữ như đang ôm lấy người xem.
Do vì các nhà thư pháp thiền khước từ các bằng chứng khoa học, chính nội dung của thư pháp đến từ bên trong hơn là không có gì cả. Do vậy, mỗi tác phẩm là vô song, phản ánh tính vĩnh hằng từ sự rung động của nhà thư pháp với thiên nhiên, với các dụng cụ để thể hiện, và với hình ảnh còn lưu dấu trong tâm họ.

image-33.jpg

Ichi (ni) gyo môn ghi hai thiền ngữ: (hàng bên trái: bình thường tâm thị đạo  平常心之道 của Chuho (1760-1838), trú trì chùa Daitokuji; hàng bên phải: trực tâm thị đạo tràng 直心是道場 của thiền sư Kyodo (1808-1895) thuộc tông Lâm Tế)
Trong cảnh giới cao nhất, nhà thư pháp hoạt dụng trong một thế giới thuần khiết thanh tịnh; sự hợp nhất của người viết, bút, mực và giấy sẽ phá hủy mọi tương quan ràng buộc. Đó là tự do – thoát ly mọi luật lệ, mọi tiêu chuẩn, mọi quy ước. Tuy nhiên, sự chứng ngộ trong thư pháp không dễ gì dạt được mà không phải trải qua nhiều năm công phu tinh cần từ căn bản bằng cả nỗ lực của thân và tâm.

image-1.jpg

直指人心

top0605.jpg

Thư pháp thiền hoàn toàn đơn giản. Trong khi phần lớn các thư pháp trình bày trong tập sách nầy lại dựa trên hệ thống hình họa đơn giản và nhấn mạnh vào các hình thái rạch ròi, tường tận.. Thư pháp thiền cũng dò đến tận nguồn sâu thẳm, sáng rỡ của chân lý, dò đến ngôn ngữ thường ngày không bị hủy hoại bởi học thuyết duy lý và thần bí chủ nghĩa. Nó không nghi thức, không quy tắc, và rất đơn giản, chẳng có gì ngoài mực đen trên giấy trắng. Ngay cả khi đề cập đến những đề tài về ngôn ngữ bí truyền, các nhà thư pháp thiền được thẳng tắt vượt qua hệ thống biểu tượng rườm rà rắc rối, bỏ qua những giáo điều ma thuật, như bản chất thanh tịnh thuần khiết vốn có của nó.

Quan, nghĩa là cửa ải mà mọi thiền sinh phải vượt qua.  Thư pháp tác giả vô danh.

 

 

 

 

 

 

 

image-31.jpg

image-32.jpg

John Steven

Thích Nhuận Châu dịch

Trích từ Thư Pháp Linh Tự Đông Phương

TRUNG DUNG

January 5th, 2008

TRUNG DUNG CHI ĐẠO

【中庸之道】

天命之謂性,率性之謂道,修道之謂教。道也者,不可須臾離也;可離,非道也。是故君子戒慎乎其所不睹,恐懼乎其所不聞。莫見乎隱,莫顯乎微。故君子慎其獨也。喜怒哀樂之未發,謂之中;發而皆中節,謂之和。中也者,天下之大本也;和也者,天下之達道也。致中和,天地位焉,萬物育焉。

PINYIN

tiānmìng zhī wèi xìng,lǜ xìng zhī wèi dào,xiūdào zhī wèi jiào。dào yě zhě,bùkě xū yú lí yě;kě lí,fēi dào yě。shì gù jūnzǐ jiè shèn hū qí suǒ bù dǔ,kǒngjù hū qí suǒ bù wén。mo jiàn hū yǐn,mo xiǎn hū wēi。gù jūn zǐ shèn qí dú yě。xǐ nù āiyuè zhī wèi fā,wèi zhī zhōng;fā ér jiē zhōng jié,wèi zhī hé。zhōng yě zhě,tiānxià zhī dà běn yě;hé yě zhě,tiān xià zhī dá dào yě。zhì zhōnghé,tiāndì wèi yān,wànwù yù yān。

PHIÊN ÂM

Trung Dung chi đạo

Thiên mạng (mệnh) chi vị Tính ,suất tính chi vị Đạo ,tu đạo chi vị Giáo . Đạo dã giả , bất khả tu du li dã ;khả li ,phi Đạo dã . Thị cố quân tử giới thận hồ kì sở bất đổ ,khủng cụ hồ kì sở bất văn . Mạc hiện hồ ẩn ,mạc hiển hồ vi . cố quân tử thận kì độc dã . Hỉ nộ ai lạc chi vị phát ,vị chi trung ;phát nhi giai trung tiết ,vị chi hoà . Trung dã giả ,thiên hạ chi đại bản dã ;hoà dã giả ,thiên hạ chi đạt đạo dã . Trí trung hoà , thiên địa vị yên , vạn vật dục yên .

 

Lễ ký: Trung dung

 

Tác giả – Tác phẩm

Trung dung ban đầu là một thiên trong sách Lể ký (thiên thứ 31), sau được Trình Di Chu Hi tách riêng ra cho nhập vào bộ Tứ thư, nội dung chủ yếu trình bày thuyết tính thiện của con người và thuyết trung dung “không thái quá không bất cập” trong suy nghĩ, hành động. Đoạn trích trên đây là đoạn đầu trong sách Trung dung, bàn về lẽ trung hòa cốt tủy của đạo trung dung.

DỊCH NGHĨA

Trung dung

Cái trời phú cho gọi là Tính, noi theo tính gọi là Đạo; tu sửa cho hợp Đạo gọi là Giáo. Đạo, là cái không phút nào có thể rời, có thể rời được là không phải Đạo.
Cho nên, người quân tử răn dè thận trọng giữ đạo ở những lúc không ai trông thấy, sợ sệt rời khỏi đạo ở những lúc không ai nghe. Không gì hiện rõ bằng chỗ ẩn giấu, không gì rõ ràng bằng sự việc nhỏ nhặt, cho nên người quân tử phải thận trọng khi ở một mình.
Mừng giận buồn vui lúc chưa phát ra, gọi là Trung; phát ra đều trúng tiết, gọi la Hòa. Trung, là gốc lớn của thiên địa; Hòa là chỗ đạt đạo của thiên hạ.
Đạt đến cảnh giới Trung và Hòa thì mọi vật trong trời đất đều ở đúng ngôi thứ, muôn vật trong trời đất đều được sinh sôi nẩy nở.

Trần Văn Chánh dịch

TỪ NGỮ

Thiên mệnh: cái trời phú cho người

Suất: noi theo

Tu du: giây phút, chốc lát

Giới: đề phòng, phòng bị, dè chừng

Đổ: trông thấy

Khủng cụ: lo sợ, sợ sệt

Trúng tiết: phù hợp tiết độ

NGỮ PHÁP

chi vị: gọi đó là, gọi là. Đây là cụm từ quen dùng, một hình thức đảo đại từ tân ngữ 之 ra phía trước động từ 謂 vị

dã giả …dã : dùng trong một kết cấu định nghĩa (chữ dã biểu thị sự đình đốn để nêu ra ở đoạn sau), dịch “là …vậy”

hồ : (a) giới từ chỉ nơi chốn, dùng như (ư), dịch là “ở chổ”. (b) giời từ dùng trong kết cấu so sánh, cũng dùng như 於 (ư), dịch là “hơn, bằng”