Archive for the tag 'trang công'



Án Tử bất tử quân nạn

December 7th, 2007

Tả Truyện

晏子不死君難 

崔武子見棠姜而美之,遂取之。莊公通焉;崔子弒之。  晏子立於崔氏之門外。其人曰:「死乎?」曰:「獨吾君也乎哉?吾死也?」曰:「行乎?」曰:「吾罪也乎哉?吾亡也?」曰:「歸乎?」曰:「君死安歸?君民者,豈以陵民,社稷是主。臣君者,豈為其口實,社稷是養。故君為社稷死,則死之;為社稷亡,則亡之。若為己死,而為己亡,非其私暱,誰敢任之?且人有君而弒之,吾焉得死之?而焉得亡之?將庸何歸?」  門啟而入,枕尸股而哭。興,三踴而出。人謂崔子必殺之。崔子曰:「民之望也。舍之得民。

左傳: 襄公二十五年 

 

Án Tử bất tử quân nạn

 

Thôi Võ Tử kiến Đường Khương nhi mĩ chi, toại thủ chi, Trang Công thông yên ;Thôi Tử thí chi.
An Tử lập ư Thôi thị chi môn ngoại. Kì nhân viết :「Tử hồ ?」viết :「Độc ngô quân dã hồ tai ? ngô tử dã ?」viết :「Hành hồ ?」viết :「Ngô tội dã hồ tai ?ngô vong dã ?」viết :「Quy hồ ?」viết :「Quân tử an quy ? Quân dân giả, khởi dĩ lăng dân, xã tắc thị chủ. Thần quân giả, khởi vị kì khẩu thực, xã tắc thị dưỡng. Cố quân vi xã tắc tử, tắc tử chi;vị xã tắc vong, tắc vong chi. Nhược vị kỉ tử, nhi vị kỉ vong, phi kì tư nặc, thuỳ cảm nhiệm chi ? Thả nhân hữu quân nhi thí chi. Ngô yên đắc tử chi ? Nhi yên đắc vong chi ? tương dung hà quy ?」
Môn khải nhi nhập, chẩm thi cổ nhi khốc, hưng, tam dũng nhi xuất. Nhân vị Thôi Tử tất sát chi. Thôi Tử viết :「Dân chi vọng dã, xá chi đắc dân .」

Tả truyện : Tương công nhị thập ngũ niên

 

Tác giả – Tác phẩm

 

Bài nầy trích trong Tả truyện, niên đại vua Tương công năm thứ 25. Nội dung chính của câu chuyện xoay quanh việc bầy tôi có nên hi sinh thân mình hoặc trốn chạy theo vua (khi mất nước) hay không. Án Tử cho rằng bất luận vua hay bề tôi, đều phải coi trọng lợi ích của quốc gia và nhân dân, làm thần tử phải lấy tiêu chuẩn nầy để quyết định thái độ, hành vi của mình chứ không nên trung thành một cách ngu muội (ngu trung), rất ám hợp với quan điểm “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” của Mạnh Tử.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Vua bị nạn, Án Tử không chết theo

Thôi Võ Tử thấy Đường Khương và khen đẹp, bèn lấy làm vợ. Trang Công thông dâm với bà ta. Thôi Tử giết Trang Công. Án Tử đứng ngoài cửa họ Thôi. Những người đi theo Án Tử nói: “Chết (theo) chăng?”. Án Tử nói: “(Há) riêng (là) vua của ta sao (mà) ta chết theo?”. Nói: “Bỏ (nước mà) đi chăng?”. Án Tử nói: “(Là) tội của ta sao mà ta bỏ nước đi?”. Nói: “Về (nhà) chăng?”. Án Tử nói: “Vua chết, về đâu? Kẻ làm vua của dân, há phải để ở ngôi trên của dân, (mà) là làm chủ xã tắc. Kẻ làm dân của vua, há phải vì bổng lộc, (mà) là phụng sự xã tắc. Cho nên vua vì xã tắc mà chết thì chết theo vua. Nếu vua vì mình mà chết, hay vì mình mà lưu vong, (nếu) không phải người được sủng ái riêng tư, thì ai dám gánh vác việc đó? Vả, nười ta đã lập lên làm vua rồi mà lại giết đi. Ta sao có thể chết theo, và sao có thể lưu vong theo, hay về đâu (nữa)?. “Cửa mở, Án Tử vào, gối thi hài lên đùi và khóc, (rồi) đúng dậy ba lần nhảy chân lên rồi ra. Người ta bảo Thôi Tử ắt sẽ giết Án Tử. (Nhưng) Thôi Tử nói: “Ông ấy là chỗ trông mong của dân, tha cho ông ấy thì sẽ được lòng dân”.

Trần Văn Chánh dịch.

 

TỪ NGỮ:

 

焉 (yên)[yān] 心不在焉 absent-minded, where; how?, thus; thereupon (vậy thì, do đó, bởi vậy – (phó từ)
焉=於之 : với bà ta (Trang Công thông yên)
也乎哉 (dã hồ tai): trợ từ liên dụng ở cuối câu, biểu thị ý phản vấn mạnh, bao hàm chút cảm thán, có thể dịch là “ư?”, “thôi sao?”.
An: đâu? nơi nào? (đại từ nghi vấn, khi làm tân ngữ trong câu nghi vấn thì đặt trước động từ).
Quân dân dã: kẻ làm vua của dân. Quân là danh từ dùng như động từ
Thần quân dã: kẻ làm bầy tôi của vua, là danh từ dùng như động từ.
Tắc tử chi: thì chết theo vua, vì vua mà chết. Ở đây nên hiểu là “tắc vị tử chi” hoặc “tắc tử ư chi”, tỉnh lược giới từ “vị為” hoặc “ư”.
Thả: vả lại (liên từ đặt đầu câu để chuyển ý)
Yên đắc: sao có thể…, sao được…(cụm từ quen dùng)
Dung hà: nơi nào, ở đâu (đại từ nghi vấn)
Chẩm: là danh từ (chiếc gối) được dùng như động từ viớ nghĩa là “gối lên”.
Tam: là số từ dùng như phó từ làm trạng ngữ, có nghĩa “ba lần”