Archive for the tag 'trang chu'



Tài dữ bất tài

February 20th, 2008

莊子行於山中,見大木,枝葉盛茂,伐木者止其旁而不取也。問其故。曰:無所可用。莊子曰:此木以不材得終其天年。莊子出於山,舍於故人之家。故人喜,命豎子殺雁而 享之。豎子請曰:其一能鳴,其一不能鳴,請奚殺?主人曰:殺不能鳴者。
 
明日,弟子問於莊子曰:昨日山中之木,以不材得終其天年;今主人之雁,以不材死。先生將何處?莊子笑曰:周將取乎材與不材之間。材與不材之間,似之而非也,故未免乎累。

 

PHIÊN ÂM

Trang Tử hành ư sơn trung ,kiến đại mộc ,chi diệp thịnh mậu ,phạt mộc giả chỉ kì bàng nhi bất thủ dã 。Vấn kì cố 。viết :” vô sở khả dụng 。” trang tử viết :” thử mộc dĩ bất tài đắc chung kì thiên niên 。” Trang tử xuất ư san , xá ư cố nhân chi gia 。 Cố nhân hỉ ,mệnh thụ tử sát nhạn nhi hưởng chi 。 Thụ tử thỉnh viết :” kì nhất năng minh ,kì nhất bất năng minh ,thỉnh hề sát ?” chủ nhân viết :” sát bất năng minh giả 。”
Minh nhật ,đệ tử vấn ư Trang Tử viết :” tạc nhật sơn trung chi mộc ,dĩ bất tài đắc chung kì thiên niên ;kim chủ nhân chi nhạn ,dĩ bất tài tử 。Tiên sinh tương hà xử ?”  Trang Tử tiếu viết :” Chu tương thủ hồ tài dữ bất tài chi gian 。Tài dữ bất tài chi gian ,tự chi nhi phi dã ,cố vị miễn hồ lụy 。

Tác giả – Tác phẩm

Bài nầy trích ở đoạn đầu thiên “sơn mộc” (thuộc ngoại thiên) sách Trang tử, là một ngụ ngôn về thuật xử thế: muốn khỏi lụy thân, phải vượt lên trên cả tài và bất tài, hữu dụng và vô dụng, đồng hóa với Đạo mà tiêu dao trong khoảng bất chập mọi sự khen chê.

TỪ NGỮ

Tài 材: tài năng (dùng như 才)
Phạt: chặt, đốn
Chỉ: dừng lại
Xá: nghỉ lại, ngủ lại
Thụ tử: đứa nhỏ, đứa trẻ, thằng bé
Nhạn: con nhạn (có sách giải là con ngỗng)
Hưởng: thết đãi
Chu 周: Trang Chu (Trang Tử tự xưng)

NGỮ PHÁP

: nhờ (dĩ bất tài đắc chung kỳ thiên niên)
Kỳ: đặt trước số từ trong một đoạn liệt kê (kỳ nhất năng minh, kỳ nhất bất năng minh)
Hề: gì, nào, cái gì, cái nào, người nào … (đại từ nghi vấn) (Thỉnh hề sát?)

DỊCH NGHĨA

Tài và bất tài

Trang tử đi trong núi, thấy có cây lớn cành lá sum sê. Người đốn cây dừng lại bên cạnh mà không đốn. Hỏi lý do, thì người ấy đáp: “Vì không dùng được gì cả”. Trang Tử nói: “Cây nầy nhờ bất tài mà được sống trọn tuổi trời”.
Trang Từ sau ra khỏi núi, ghé nghỉ lại nhà một người quen. Người quen mừng rỡ, gọi trẻ giết ngỗng làm thịt đãi khách. Đứa trẻ thưa: “Một con biết kêu, một con không biết kêu, xin hỏi giết con nào?”. Chủ nhân đáp: “Giết con không biết kêu”.
Hôm sau, các học trò hỏi Trang Tử: “Hôm qua, cây trong núi nhờ bất tài mà được sống trọn tuổi trời, nay con ngỗng của chủ nhà vì bất tài mà chết. Tiên sinh định ở vào chỗ nào?”. Trang Tử cười đáp: “Chu nầy sẽ ở vào khoảng giữa tài và bất tài. Giữa tài và bất tài, có vẻ giống nhau đấy nhưng lại không phải, cho nên chưa tránh khỏi lụy”.

Trần Văn Chánh dịch

Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?

January 24th, 2008

【子非魚,安知魚之樂?】

莊子與惠子游于濠梁之上。 莊子曰∶”魚出游從容,是魚之樂也。”惠子曰∶”子非魚,安知魚之樂?”莊子曰∶”子非吾,安知吾不知魚之樂?”惠子曰∶”吾非子,固不知子矣;子固非魚也,子之不知魚之樂,全矣!”莊子曰∶”請循其本。子曰’汝安知魚樂’云者,既已知吾知之而問吾。吾知之濠上也。”《莊子•秋水》 

PINYIN

zǐ fēi yú,ān zhī yú zhī yuè?

zhuāngzǐ yǔ huì zǐ yóu yú háoliáng zhīshàng。
zhuāng zǐ yuē ∶”yú chū yóu cóngróng,shì yú zhī yuè yě。”
huì zǐ yuē ∶”zǐ fēi yú,ān zhī yú zhī yuè?”
zhuāng zǐ yuē ∶”zǐ fēi wú,ān zhī wú bùzhī yú zhī yuè?”
huì zǐ yuē ∶”wú fēi zǐ,gù bù zhī zǐ yǐ;zǐ gù fēi yú yě,zǐ zhī bù zhī yú zhī yuè,quán yǐ!”
zhuāng zǐ yuē ∶”qǐng xún qí běn。zǐ yuē’rǔ ān zhī yú yuè’yún zhě,jì yǐzhī wú zhī zhī ér wèn wú。wú zhī zhī háo shàng yě。”

PHIÊN ÂM

Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?

Trang Tử dữ Huệ Tử du ư hào lương chi thượng.
Trang Tử viết: “Du ngư xuất du thung dung, Thị ngư lạc dã”.
Huệ Tử viết: “Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?”
Trang Tử viết: “Tử phi ngã, an tri ngã bất tri ngư chi lạc?”
Huệ Tử viết: “Ngã phi tử, cố bất tri tử hĩ. Tử cố phi ngư dã, tử chi bất tri ngư chi lạc toàn hĩ ”
Trang Tử viết: “Thỉnh tuần kì bản. Tử viết: nhữ an tri ngư lạc vân giả, ký dĩ tri ngô tri chi nhi vấn ngã. Ngã tri chi hào thượng dã”.

Trang Tử: Thu thủy

Tác giả – Tác phẩm

Sách Trang Tử được coi là tác phẩm triết lý văn học xuất sắc nhất của phái Đạo gia Trung Quốc, có địa vị tương tự như sách Mạnh Tử bên Nho giáo. Tác giả là Trang Chu (369-298 trước CN), phát triển tư tưởng của Lão Tử, chủ trương xuất thế, không ham sống, không ghét chết, không vui buồn, không dụng tâm cải tạo việc đời, coi phải, trái, xấu, tốt, sang, hèn đều như nhau…Sách gồm 33 thiên chi làm 7 thiên “Nội thiên“, 15 thiên “Ngoại thiên” và 11 thiên “Tạp thiên“, trong đó phần “Nội thiên” có tính nhất trí cao hơn và được nhiều học giả coi như là phần chính thức do Trang Tử (Trang Chu) viết. Bài trên đây trích trong đoạn cuối thiên “Thu Thủy” (thuộc ngoại thiên), luận về tính chủ quan của nhận thức con người đối với sự vật bên ngoài.

TỪ NGỮ

Huệ Tử: người cùng thời với Trang Tử
Hào lương: cầu trên sông Hào (sông Hào ở phía đông bắc huyện Phượng Dương tỉnh An Huy)
Du: cá du (một loại cá trắng)
Thung dung: thong thả
Tuần: noi theo, men theo
Nhữ: ông, bác, mày…(đại từ nhân xưng ngôi thứ ha)

NGỮ PHÁP

An: sao, làm sao (phó từ biểu thị phản vấn)
Cố: vốn, vốn dĩ (phó từ)
Vân giả: cái gọi là

DỊCH NGHĨA

Bác không phải cá, sao biết niềm vui của cá?

Trang Tử cùng Huệ Tử dạo chơi trên cầu sông Hào.
Trang Tử nói: “Cá du ra chơi thong thả, đó là niềm vui của cá”
Huệ Tử đáp: “Bác không phải cá, sao biết được niềm vui của cá?”
Trang Tử nói: “Bác không phải tôi, sao biết tôi không biết niềm vui của cá?”
Huệ Tử nói: “Tôi không phải bác, không biết bác đã đành. Nhưng bác vốn không phải cá, thì hẳn là bác không biết được niềm vui của cá”.
Trang Tử nói: “Xin nói lại từ gốc. Bác hỏi tôi sao biết được niềm vui của cá, thế là bác đã biết tôi biết mà hỏi tôi. Tôi thì biết điều đó ở trên sông Hào nầy”.

Trần Văn Chánh dịch