Archive for the tag 'tô đông pha'



HẬU XÍCH BÍCH PHÚ

September 1st, 2008

後赤壁賦

是歲十月之望,步自雪堂,將歸於臨皋。二客從予,過黃泥之阪。霜露既降,木葉盡脫,人影在地,仰見明月。顧而樂之,行歌相答。

已而歎曰:有客無酒,有酒無肴;月白風清,如此良夜何?客曰:今者薄暮,舉網得魚,巨口細鱗,狀如松江之鈣顧安所得酒乎?歸而謀諸婦。婦曰:我有鬥酒,藏之久矣,以待予不時之需。

於是攜酒與魚,複游於赤壁之下。江流有聲,斷岸千尺。山高月小,水落石出。曾日月之幾何,而江山不可複識矣。予乃攝衣而上,履巉岩,披蒙茸,踞虎豹,登虯龍;攀棲鶻之危巢,俯馮夷之幽宮。蓋二客不能從焉。劃然長嘯,草木震動,山鳴谷應,風起水湧。餘亦悄然而悲肅然而恐,凜乎其不可留也。返而登舟,放乎中流,聽其所止而休焉。時夜將半,四顧寂寥。適有孤鶴,橫江東來,翅如車輪,玄裳縞衣,戛然長鳴,掠予舟而西也。

須臾客去予亦就睡。夢一道士,羽衣蹁躚,過臨皋之下,揖予而言曰:赤壁之遊樂乎?問其姓名,俯而不答。嗚呼噫嘻!我知之矣。團昔之夜,飛鳴而過我者,非予也耶?道士顧笑,予亦驚悟。開戶視之,不見其處。

PHIÊN ÂM

HẬU XÍCH BÍCH PHÚ

Thị tuế thập nguyệt chi vọng, bộ tự tuyết đường, tương quy ư lâm cao.  Nhị khách tòng dư, quá hoàng nê chi phản.  Sương lộ kí hàng, mộc diệp tận thoát, nhân ảnh tại địa, ngưỡng kiến minh nguyệt.  Cố nhi nhạc chi, hành ca tương đáp.
Dĩ nhi thán viết :” hữu khách vô tửu, hữu tửu vô hào; nguyệt bạch phong thanh, như thử lương dạ hà ?” khách viết :” kim giả bạc mộ “, cử võng đắc ngư, cự khẩu tế lân, trạng như tùng giang chi cái cố an sở đắc tửu hồ ?” quy nhi mưu chư phụ.  Phụ viết :” ngã hữu đấu tửu, tàng chi cửu hĩ, dĩ đãi dư bất thì chi nhu.”
Ư thị huề tửu dữ ngư, phức du ư xích bích chi hạ.  Giang lưu hữu thanh, đoạn ngạn thiên xích.  San cao nguyệt tiểu, thủy lạc thạch xuất. Tằng nhật nguyệt chi ki hà, nhi giang san bất khả phức thức hĩ. Dư nãi nhiếp y nhi thượng, lí sàm nham, phi mông nhung, cứ hổ báo, đăng cầu long; phàn tê cốt chi nguy sào, phủ phùng di chi u cung. Cái nhị khách bất năng tòng yên. Hoạch nhiên trường khiếu, thảo mộc chấn động , san minh cốc ứng, phong khởi thủy dũng. Dư diệc tiễu nhiên nhi bi túc nhiên nhi khủng, lẫm hồ kì bất khả lưu dã. Phản nhi đăng chu, phóng hồ trung lưu, thính kì sở chỉ nhi hưu yên. Thì dạ tương bán, tứ cố tịch liêu. Thích hữu cô hạc, hoành giang đông lai, sí như xa luân, huyền thường cảo y, kiết nhiên trường minh, lược dư chu nhi tây dã.
Tu du khách khứ dư diệc tựu thụy. Mộng nhất đạo sĩ, vũ y biên tiên, quá lâm cao chi hạ, ấp dư nhi ngôn viết :” Xích Bích chi du nhạc hồ ?” vấn kì tính danh, phủ nhi bất đáp. ” Ô hô y hi ! ngã tri chi hĩ. Đoàn tích chi dạ, phi minh nhi quá ngã giả, phi dư dã da ?” đạo sĩ cố tiếu, dư diệc kinh ngộ. Khai hộ thị chi, bất kiến kì xử.

DỊCH NGHĨA

Ngày mười rằm tháng mười năm ấy,
Từ nhà Tuyết Đường ra đi,
Để về đình Lâm cao,
Hai người khách theo ta.
Qua giốc Hoàng nê,
Sương móc đã xuống,
Lá cây rụng hết,
Bóng người ở dưới đất,
Ngửa trông lên thấy trăng sáng,
Nhìn nhau vui vẻ,
Vừa đi vừa hát, người hát kẻ hát theo.
Rồi mà than rằng :
Có khách không có rượu,
Có rượu không có nhắm,
Trăng trong gió mát,
Đêm đẹp này biết làm thế nào ?
Khách nói : Buổi chiều hôm nay,
Nhắc lưới được cá,
Miệng lớn vây nhỏ,
Dáng như cá lô sông Tùng giang,
Biết làm sao cho có rượu !
Về nhà bàn với vợ,
Vợ nói : Tôi có một đấu rượu,
Cất đi từ lâu,
Để đợi ông bất thần dùng đến.
Rồi thì mang rượu và cá,
Lại đi chơi dưới núi Xích Bích.
Có tiếng nước sông chẩy,
Cách bờ xa nghìn thước,
Núi như cao, trăng như nhỏ,
Nước cạn đá chìa ra,
Trải ngày tháng chưa bao nhiêu,
Mà non sông (chỗ chơi trước) không nhận ra được nữa.
Ta đành vén áo mà trèo lên,
Bước lên đá lởm chởm, rẽ đám cỏ rậm,
Ngồi lên (tảng đá hình) hổ báo, trèo lên (cành cây vòng như) con rồng,
Với tổ chim cắt chỗ chênh vênh,
Cúi xuống nhìn (Thủy cung) Bằng Di tối om.
Chừng hai người khách không thể theo được,
Quát lên gọi to,
Cây cỏ rung động,
Núi hang vang lên,
Gió nổi nước bắn tung tóe.
Ta cũng nao núng mà buồn,
Nghiêm lặng mà sợ,
Ghê rợn không thể ở lại nữa.
Trở ra mà lên thuyền,
Buông ra giữa dòng sông,
Mong đến chỗ dừng thuyền mà nghỉ ngơi.
Lúc ấy gần nửa đêm,
Bốn bề vắng vẻ,
Chợt có một con hạc,
Bay ngang sông từ phía đông lại.
Cánh xòe như bánh xe,
Xiêm đen áo trắng,
Vụt nhiên kêu lên,
Lướt qua thuyền ta mà đi về hướng tây.
Chốc lát khách ra về,
Ta cũng đi ngủ,
Mơ thấy một Đạo sĩ,
Áo lông (loài chim) phơi phới,
Đi qua dưới đình Lâm cao,
Vái chào ta mà hỏi :
Đi chơi Xích Bích có vui không ?
Ta hỏi tên họ,
Cúi đầu mà không trả lời.
Hỡi ơi ha ha.
Ta đã biết rồi,
Liệu lúc đêm vừa đây,
Bay kêu qua thuyền ta, chẳng phải nhà ngươi đấy ư ?
Đạo sĩ nhìn ta cười,
Ta cũng giật mình tỉnh dậy.
Mở cửa trông ra,
Chẳng thấy đâu cả.

CHÚ THÍCH

1.  Tuyết Đường: Nhà Tuyết Đường. Tác giả dựng nhà Tuyết Đường ở phía nam Hoàng Châu, để cùng bạn hữu ra đọc sách. Từ nhà Đông Pha đến Tuyết Đường đi bộ vừa 430 bước. Nhà lợp cỏ tranh, bốn bề vách đất, chung quanh vách đều vẽ tuyết, nên gọi là Tuyết Đường. Chính tay tác giả viết bốn chữ lớ Đông Pha Tuyết Đường (thêm chữ Hán) treo ở giữa nhà.
Nay di tích nền nhà Tuyết Đường còn ở ngoài phía nam huyện Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc.

2.  Lâm Cao: Đình Lâm Cao. Khi tác giả mới bị đầy đến Hoàng Châu, tạm trú trong chùa Huệ Thiền. Sư cụ chùa Huệ Thiền mời tác giả ra ở đình Lâm Cao cho tĩnh mịch. Nay đình Lâm Cao vẫn còn, ở phía Nam huyện Hoàng Cương, đi qua đình mới ra bến sông Trường Giang.

3.  Hoàng Nê: Giốc Hoàng Nê ở huyện Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc. Ở đấy có bến sông Hoàng Giang, gọi là bến đò Hoàng Nê.

4.   Tùng Giang chi lư: Cá lô sông Tùng Giang. Sông Tùng Giang ở huyện Tùng Giang, tỉnh Giang Tô, có giống cá lô, mồm to vây nhỏ, có con dài đến 2 thước. Cuối mùa xuân cá lô theo nước thủy triều vào sông, đến mùa thu thì trở về biển nên mùa thu cá lô rất béo. Cá lô là sản phẩm của huyện Tùng Giang, tỉnh Giang Tô.

5   Đẩu tửu : Đấu rượu. Phép đong ngày xưa cứ mười thăng gọi là 1 đấu.

6.  Bằng Di: Tên vị Thủy thần.

7.  Vũ y : Áo bằng lông chim. Sách Thập Di Ký : Đời Chiến Quốc,Yên Chiêu Vương mơ thấy một người mặc xiêm áo cánh loài chim xưng là Vũ nhân (thêm Hán tự) đến cùng vua giảng thuyết tiên thuật. Vì thế đời sau gọi Đạo sĩ là Vũ nhân.

Phụ Chú.

Tiểu sử Tô Thức và giá trị hai bài phú Xích Bích.

Tô Thức tự là Tử Chiêm, quê ở huyện My Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, thơ hay chữ tốt, ham đọc văn chương Giả Nghị nhà Hán và Lục Trì nhà Đường. Đời vua Tống Nhân Tông (1010-1063) Tô 21 tuổi, đến kinh sư ứng thí, Chủ khảo Âu Dương Tu xem bài luận Hình thưởng trung hậu chi chí luận (thêm Hán tự) biết là bậc đại tài, bèn lấy đỗ Tiến sĩ thứ hai, thụ chức Quốc sử Bí thư lang. Đời vua Thần Tông (1068-1085), Vương An Thạch lên làm Tể tướng, đặt ra tân pháp, sưu thuế nặng nề, dân tình ta oán. Tô làm thơ công kích tân pháp, bị An Thạch cách chức đầy ra đất Hoàng Châu, tỉnh Hồ Bắc. Tô đến Hoàng Châu làm nhà ở đất Đông Pha ẩn cư, lấy hiệu là Đông Pha Cư sĩ. Ngày 16 tháng 7 năm nhâm tuất là năm Nguyên Phong thứ 5 (1082) đời vua Thần Tông, Tô cùng với bạn là Dương Thế Xương, hiệu Miên Trúc Đạo sĩ (1), đi chơi thuyền trên sông Xích Bích. Lúc ấy đương mùa nước lớn, mặt sông mênh mông, cuộc chơi rất hào hứng. Tô thích chí gõ vào mạn thuyền mà hát, Miên Trúc đạo sĩ thổi sáo họa theo. Hai người đàm luận những chuyện hưng suy kim cổ, cho vạn vật ở trong vũ trụ đều là ngắn ngủi mà lại vĩnh viễn vô cùng. Khi về Tô làm bài phú Tiền Xích Bích để kỷ niệm cuộc đi chơi.

Đến ngày 15 tháng mười năm ấy, Tô lại cùng Miên Trúc Đạo sĩ và Hoàng Lỗ Trực (2) đi chơi sông Xích Bích. Hồi này tiết trời đông ken, nước sông cạn xiết, bờ sông và sườn núi chìa ra, đường lối đã thay đổi, khác hẳn lần đi chơi trước. Khi về bỗng có con chim hạc lướt qua thuyền bay sang phía tây. Đêm khuya Tô chiêm bao thấy một Đạo sĩ đến nói truyện, tỉnh dậy mới biết chim hạc bay qua thuyền là tiên nhân, bèn làm ra bài phú Hậu Xích Bích.
Vua Triết Tông (1086-1099) xem hai bài phú, khen là kỳ tài, vời Tô về triều phong chức Hàn lâm học sĩ, rồi thăng lên Bộ binh Thượng thư.

Hai bài phú Xích Bích, lời mạnh mẽ phóng khoáng, ý sâu xa thần diệu, thực là nghị luận của đại triết gia, tiêu biểu cho phái Khổng học chịu ảnh hưởng của Lão Trang, đời sau đều phục là tuyệt tác.

Thi nhân đời nhà Minh, Lý Phan Long bàn rằng :
Anh hùng như Tào Tháo, sự nghiệp của Chu Du nay còn thấy đâu. Chỉ có bóng trăng đẹp, dòng nước trong và câu văn bất hủ của Tô Đông Pha muôn đời còn mãi.

Sách Quảng dương tạp ký của Lưu Hiến Đình đời Thanh chép :
Sông Xích Bích chỗ Tô Đông Pha cùng bạn đi chơi ngày trước, nay đã bồi thành lục địa, cách sông Trường Giang rất xa : biển xanh biến thành ruộng dâu, thay đổi chóng thế. Nay ở trên núi Xích Bích thuộc huyện Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc, còn nhô ra một tảng đá lớn sắc đỏ như mũi con voi, vì thế gọi là núi Xích Bích.
Dưới chân núi có đình, trong đình có tượng Đông Pha bằng đá trắng, ở trên treo bức hoành 4 chữ Vạn Cổ Phong Lưu rất lớn do Từ Tử Trinh viết. Phía đông đình có ba gian nhà, trong nhà treo một cái biển sơn thiếp, viết 2 chữ Nhị Phú. Phía nam đình cũng có ba gian nhà, trên vách đề la liệt thơ của danh sĩ, danh nhân các triều đại tán tụng hai bài phú.
Lối đông bắc leo mấy chục bậc đá thì lên gác. Gác này trước bị đổ, đến năm Gia Tĩnh (1523-1567) đời vua Thế Tông nhà Minh được quan Lệnh Hoàng Cương là Mạnh Tân trùng tu lại. Gian giữa gác đề hai chữ Lưu Pha dưới có một tấm bia đá chép nguyên văn hai bài phú Xích Bích do Triệu Tùng Tuyết là danh bút đời nhà nguyên viết. Chung quanh còn đình tạ rất nhiều, đều là chỗ kỷ niệm văn chương sự nghiệp của tác giả hai bài phú, kể ra không thể xiết.

Phụ ghi.

1.   Dương Thế Xương hiệu là Miên Trúc Đạo sĩ, quê ở tỉnh Tứ Xuyên, ẩn cư trong núi Hoàng Cương. Dương là bạn thân với Đông Pha.
2.   Hoàng Đình Cương tự là Lỗ Trực, hiệu Sơn Cốc Đạo nhân, quê ở đất Phần Ninh, đỗ Tiến sĩ, thụ chức Tri Ngạc châu. Hoàng hay thơ, văn chương phóng túng, viết chữ lối thảo rất tốt, cùng với Đông Pha nổi tiếng danh sĩ đương thời. Khi mất học trò tôn tên Thụy  là Văn Tiết Tiên sinh.

DỊCH THƠ:

BÀI PHÚ HẬU XÍCH BÍCH

Bản dịch của Nguyễn Văn Bình

          Ngày mười rằm tháng mười năm ấy
          Từ Tuyết Đường đứng dậy ra đi
          Lâm Cao thẳng lối đường về
          Khách theo qua giốc Hoàng Nê hai người.
          Sương tuyết xuống lá tơi bời rụng
          Dưới bóng người trên bóng trăng cao
          Đoái trông phong cảnh vui sao
          Vừa đi vừa hát nghêu ngao mấy bài.
          Than thở có khách chơi rượu hiếm
          Biết lấy gì chuốc chén vui chung
          Rượu mà có, nhắm cũng không
          Đêm nay gió mát trăng trong cũng hoài.
          Khách rằng : Lúc vừa rồi nhắc vó
          Được cá vào vây nhỏ miệng to
          Tùng Giang tựa giống cá lô
          Biết sao tìm được một vò rượu đây.
          Liền quay lại giãi bầy cùng vợ
          Vợ thưa rằng : Nhà có rượu tăm
          Rượu này cất đã lâu năm
          Dành cho thầy lúc bất thần mua vui.
          Rượu với cá tức thời tay xách
          Lại theo dòng Xích Bích cùng đi
          Sông reo cách bến xưa kia
          Núi cao, trăng nhỏ, nước chìa đá ra.
          Kể ngày tháng nào xa chi mấy
          Mà non sông đã thấy khác nhiều
          Ta liền vén áo trèo leo
          Với non, vạch cỏ, vờn beo, cưỡi rồng.
          Vin tổ cắt, nhòm cung Thủy tế
          Khách chậm chân không thể theo cùng
          Kêu lên một tiếng hãi hùng
          Cỏ cây vang động núi sông ồn ào.
          Ta cũng thấy nao nao ghê rợn
          Lòng chập chờn không muốn ngồi dai
          Xuống thuyền theo nước sông trôi
          Nhởn nhơ một lá chèo bơi đi về.
          Nửa đêm lúc bốn bề im phắc
          Bỗng miền đông chim hạc bay ra
          Cánh xòe tựa bánh xe hoa
          Xiêm đen áo trắng lướt qua nhẹ nhàng.
          Vút đâu tiếng kêu vang vọng xuống
          Vượt thuyền ta theo hướng tây đi
          Đêm khuya khách trở ra về
          Ta vào trong trướng say mê giấc vàng.
          Thấy Đạo sĩ xênh sang khăn áo
          Đến Lâm Cao bèn dạo qua chơi
          Chào ta Đạo sĩ ngỏ lời
          Cuộc chơi Xích Bích có vui chăng là.
          Hỏi tên họ khách đà lúng túng
          Ô là ta biết đúng ngươi rồi
          Lúc đêm bay vút ngang trời
          Qua thuyền ta chẳng ngươi thời còn ai.
          Đạo sĩ mỉm miệng cười không nói
          Ta giật mình cũng vội tỉnh ra
          Đứng lên mở cửa trông qua
          Tuyệt mù nào thấy người đà ở đâu.

 

Bản dịch của c Hà Thượng Nhân

 

 

Hậu Xích Bích Phú

Cùng năm đó, tháng mười, giữa tháng
Từ tuyết đường về ngả lân cao
Có hai ông khách đi theo
Móc sương lã chã, cây đèo xác xơ
Cúi xuống thấy mờ mờ nhân ảnh
Ngẩng lên nhìn vành vạnh trăng cao
Ngắm xem phong cảnh thanh tao
Vừa đi vừa hát vui sao cho cùng !
 Tiếc có khách lại không có rượu
Rượu lại không đồ nhậu, buồn chưa !
 Trăng trong gió mát dang chờ
Khách rằng : ” xẩm tối bất ngờ giăng câu
Tóm ngay được ở đâu chú cá
Giống cá lư dưới chỗ Tùng Giang
Tìm đâu được hũ rượu ngang ?
 Ta bàn với vợ, vợ rằng :”chớ lo”
Tôi vốn có một vò rượu quý
Ðã lâu nay cất kỹ để dành”
Thế rồi rượu cá sắm sanh
Xuôi dòng Xích Bích lại thành cuộc chơi !
 Khúc sông chảy muôn vời sóng nước
Sườn núi cao ngàn thước chênh vênh 
Núi cao trăng sáng mông mênh
Nước ròng, đá núi gập ghềnh phô ra
Ta vén áo dần dà bới cỏ
Ngồi lên trên những chỗ cheo leo
Ngửng trông tổ cắt ngặt nghèo
Cúi nhìn u hiểm thủy triều Bằng ố di
Hai người khách chẳng đi tới được
Tiếng gọi nhau dội ngược cỏ cây
Ta nghe tê tái lòng này
Phập phồng lo sợ ở đây rợn người
Bèn trở lại, thuyền xuôi mặc sóng
Sắp nửa đêm in vắng bốn bề
Chợt nghe chim hạt bay khuya
Lẻ loi, cánh giống bánh xe rộn ràng
Giữa trời rộng kêu vang lảnh lót
Vừa phương Ðông , đã thoát phương Ðoài
Thế rồi khách bỏ mặc ai
Ta lim dim một giấc dài như mơ
Mơ thấy một phơ phơ đạo sĩ
Mặc áo lông từ chỗ lâm cao
Gặp ta người vội vái chào:
“Cuộc chơi Xích Bích thế nao, vui không ?”
 
Hỏi họ tên nhưng ông chẳng nói
Ta biết rồi : vừa mới hôm qua
Tiếng kêu trong vắt gần xa
Cái con chim hạc chính là ông thôi !
Lão đạo sĩ chỉ cười lặng lẽ
Ta giật mình mở cửa nhìn ra
Vắng tanh nào thấy đâu là !

 Sài gòn sáng ngày 25 tháng 5 năm 1985

Tiền Xích Bích phú

August 29th, 2008

〈前赤壁賦〉

壬戌之秋,七月既望,蘇子與客泛舟遊於赤壁之下。清風徐來,水波不興。舉酒屬客,誦明月之詩,歌窈窕之章。少焉,月出於東山之上,徘徊於斗牛之間。白露橫江,水光接天。縱一葦之所如,凌萬頃之茫然。浩浩乎如馮虛御風,而不知其所止;飄飄乎如遺世獨立,羽化而登仙。

  於是飲酒樂甚,扣舷而歌之。歌曰︰「桂棹兮蘭槳,擊空明兮泝流光。渺渺兮於懷,望美人兮天一方。」客有吹洞蕭者,倚歌而和之,其聲嗚嗚然,如怨如慕,如泣如訴;餘音裊裊,不絕如縷;舞幽壑之潛蛟,泣孤舟之嫠婦。

  蘇子愀然,正襟危坐,而問客曰︰「何為其然也?」客曰︰「月明星稀,烏鵲南飛,此非曹孟德之詩乎?西望夏口,東望武昌。山川相繆,鬱乎蒼蒼;此非孟德之困於周郎者乎?方其破荊州,下江陵,順流而東也,舳艫千裡,旌旗蔽空,釃酒臨江,橫槊賦詩;固一世之雄也,而今安在哉?況吾與子,漁樵於江渚之上,侶魚蝦而友糜鹿,駕一葉之扁舟,舉匏樽以相屬;寄蜉蝣與天地,渺滄海之一粟。哀吾生之須臾,羨長江之無窮;挾飛仙以遨遊,抱明月而長終;知不可乎驟得,托遺響於悲風。」

  蘇子曰︰「客亦知夫水與月乎?逝者如斯,而未嘗往也;盈虛者如彼,而卒莫消長也。蓋將自其變者而觀之,而天地曾不能一瞬;自其不變者而觀之,則物於我皆無盡也。而又何羨乎?且夫天地之間,物各有主。苟非吾之所有,雖一毫而莫取。惟江上之清風,與山間之明月,耳得之而為聲,目遇之而成色。取之無禁,用之不竭。是造物者之無盡藏也,而吾與子之所共適。」

  客喜而笑,洗盞更酌,肴核既盡,杯盤狼藉。相與枕藉乎舟中,不知東方之既白。

 

First Fu (1) on the Ch’ih-pi (Red Cliff) (2)

On the sixteenth of the seventh month, in the fifth year of Yuan-feng (3), I took a trip by boat with some friends to the Ch’ih-pi. The wind was blowing gently; there was not a ripple on the water. I raised my cup and toasted my friends. We recited the poem from the Books of Songs on the ‘Bright Moonlight,’ containing the line on the sedate lady. Shortly after, the moon rose over the eastern mountain and hovered between the Dipper and Aquila. The white dew lay all over the river, and the light reflected in the water reached up to the sky. We let our small boat drift along over the vast expanse ahead of us. Now we seemed to float away, and, freed from this world, to take wing and become immortal.

In this mood, we drank happily and sang, beating out the rhythm with our fingers on the side of the boat:

On a cassia boat, with orchid oars We struck the water, rowing up the river,As the moon shone over the waves. I long For the beauties on the other side of Heaven! (4)

Among my friends there was one who played the flute and who accompanied my song. The sound of the music was melancholy. Now it seemed complaining and yearning; now it seemed weeping and pleading. Even when the song was finished, its reverberations seemed not to die away but lingered on like an unbroken thread. Dragons hiding in the dark ravines would havebeen roused to dance, and widows languishing in their solitary boats would have been moved to tears.

Overcome by sadness, I adjusted my garment, sat up solemnly and asked my friends: ‘Why is it that things are what they are?’ they replied as follows: ‘The moon is bright and the stars are few. Crows and magpies fly southward. ‘Was this not the poetry of Ts’ao Meng-teh (5)? Between Hsiak’ou (6) in the west and Wuch’ang (7) in the east interwined a host of gray mountains and rivers. Was this not the scene of his siege by Chou Yu (8)? When Ts’ao Ts’ao sailed down to Chiangling (9) after overrunning Chingchou (10) and followed the waters of the river eastward, his ships lined up the river for one thousand li (11), and his flags covered the sky. Looking out on the river, he drank copious draughts, and, as he grasped his spear, he composed poetry. He was a great hero in his time, but where is he now? Moreover, now that you and I are fishing and cutting wood on the brink of the river, fish and prawns are our companions, stags, and deer our friends. We row a flat leaf-like boat and drink with one another. We are like tiny insects in a vast world and mere specks in the deep, deep sea. We lament our ephemeral lives and admire the eternal Yangtze. To travel far and wide with roving immortals and embrace the moon till the end of times is something that cannot be achieved. In this certainty, we have left the reverberations of our music to mingle with the sobbing wind.’

‘My friend,’ said I, ‘do you know about the water and the moon? The former goes on and on, but it never comes to an end. The latter waxes and wanes, but it never decreases or increases. If we see everything from its changing aspect, even heaven and earth cannot last for a twinkling of an eye. If we look at everything from its unchanging aspect, it and we can
never end. What is there, then, to be admired?

‘Furthermore, everything on earth has its owner. If a thing is not owned by us, we cannot lay hands on the tiniest part of it. Only the gentle breeze on the river and the bright moon over the mountains feast the ear with sound and the eye with color, and these we can take at perfect liberty and use without exhausting them. These are the unlimited reserves of the Creator, which you and I can enjoy together.’

My friends were gratified and smiled. We washed our cups and resumed our drinking. When all the food was consumed and the cups and dishes were scattered around, we lay in complete disorder till dawn came up the east and took us unawares.

SU SHIH
(TR: SHIH SHUN LIU)

(1)_ Rhymed or partly rhymed prose.
(2)_ A mountain in Huangkang Hsien, Hupeh, intentionally or unintentionally confused with another of the same name, situated in Chiayu Hsien, where Ts’ao Ts’ao was disastously defeated by the combined forces of Shu and Wu during the Three Kingdoms period.
(3)_ Reign of emperor Shen-tsung of the Sung dynasty, 1068-1085, the fifth year of Yuan-feng (1078-1085)
being 1082.
(4)_ The allusion was to high officials in the capital.
(5)_ Courtesy name of Ts’ao Ts’ao, the emperor of Wei, another one of the Three Kingdoms, who was one of the most active political figures in his time.
(6)_ Modern Hankow, a city in Hupeh Province.
(7)_ Wuch’ang Hsien, Hupeh.
(8)_ A famous general of the state of Wu.
(9)_ Chiangling Hsien, Hupeh.
(10)_ Prefecture in Hupeh.
(11)_ Each equivalent to one-third of a mile.

TIỀN XÍCH BÍCH PHÚ

Nhâm tuất chi thu, thất nguyệt kí vọng, Tô Tử dữ khách phiếm du chu ư Xích Bích chi hạ. Thanh phong từ lai, thủy ba bất hưng, cử tửu chúc khách, tụng Minh Nguyệt chi thi, ca Yểu Ðiệu chi chương. Thiểu yên, nguyệt xuất ư đông sơn chi thượng, bồi hồi ư đẩu ngưu chi gian; bạch lộ hoành giang, thủy quang tiếp thiên. Túng nhất vĩ chi sở như, lăng vạn khoảnh chi mang nhiên. Hạo hạo hồ như bằng hư ngự phong, nhi bất tri kỳ sở chỉ; phiêu phiêu hồ như di thế độc lập, vũ hóa nhi đăng tiên. Ư thị ẩm tửu lạc thậm, khấu huyền nhi ca chi. Ca viết:

Quế trạo hề lan tương,
Kích không minh hề tố lưu quang.
Diểu diểu hề dư hoài,
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương.

Khách hữu xúy đỗng tiêu giả, ỷ ca nhi họa chi; kỳ thanh ô ô nhiên, như oán như mộ, như khấp như tố, dư âm niểu niểu bất tuyệt như lũ. Vũ u hác chi tiềm giao, khấp cô chu chi ly phụ. Tô Tử sậu nhiên chính khâm, nguy tọa nhi vấn khách viết:

— Hà vi nhiên dã?

Khách viết:

— “Nguyệt minh tinh hi, ô thước nam phi”, thử phi Tào Mạnh Ðức chi thi hồ? Tây vọng hạ khẩu, đông vọng Vũ Xương, sơn xuyên tương liễu, uất hồ thương thương, thử phi Mạnh Ðức chi khốn ư Chu Lang giả hồ? Phương kỳ phá Kinh Châu, hạ Giang Lăng, thuận lưu nhi đông dã, trục lô thiên lí, tinh kỳ tế không, sỉ tửu lâm giang, hoành sáo phú thi, cố nhất thế chi hùng dã, nhi kim an tại tai? Huống ngô dữ tử, ngư tiều ư giang chử chi thượng, lữ ngư hà nhi hữu mi lộc, giá nhất diệp chi thiên chu, cử bào tôn dĩ tương chúc, ký phù du ư thiên địa, diểu thương hải chi nhất túc, ai ngô sinh chi tu du, tiện trường giang chi vô cùng, hiệp phi tiên dĩ ngao du, bão minh nguyệt nhi trường chung. Tri bất khả hồ sậu đắc, thác di hưởng ư bi phong!

Tô Tử viết:

— Khách diệc tri phù thủy dữ nguyệt hồ? Thệ giả như tư, nhi vị thường vãng dã; doanh hư giả như bỉ, nhi tốt mạc tiêu trưởng dã. Cái tương tự kỳ biến giả nhi quan chi, tắc thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn. Tự kỳ bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giai vô tận dã, nhi hựu hà tiện hồ? Thả phù thiên địa chi gian, vật các hữu chủ, cẩu phi ngô chi sở hữu, tuy nhất hào nhi mạc thủ. Duy giang thượng chi thanh phong dữ sơn gian chi minh nguyệt, nhĩ đắc chi nhi vi thanh, mục ngộ chi nhi thành sắc, thủ chi vô cấm, dụng chi bất kiệt, thị tạo vật giả chi vô tận tạng dã, nhi ngô dữ tử chi sở cộng thích. Khách hỉ nhi tiếu, tẩy trản cánh chước. Hào hạch ký tận, bôi bàn lang tạ, tương dữ chẩm tạ
hồ chu trung, bất tri đông phương chi ký bạch.

TÔ ÐÔNG PHA

DỊCH NGHĨA:

BÀI PHÚ TIỀN XÍCH BÍCH

Ngoài rằm tháng bảy mùa thu năm Nhâm Tuất [1], Tô Tử cùng với khách bơi thuyền chơi ở dưới núi Xích Bích [2]. Hây hây gió mát, sóng lặng như tờ, cầm chén rượu lên mời khách, đọc bài thơ Minh Nguyệt và hát một chương Yểu Ðiệu [3]. Một lát, mặt trăng mọc lên trên núi Ðông Sơn [4], đi lững thững trong khoảng hai sao ngưu, đẩu [5]. Khi đó sương tỏa trên mặt sông, vẻ nước trong tiếp đến chân trời. Tha hồ cho một chiếc thuyền nhỏ đi đâu thì đi, vượt qua trên mặt nước mênh mông muôn khoảnh. Nhẹ nhàng như cởi gió đi trên không mà không biết là đi đến đâu; hớn hở sung sướng như người quên đời đứng một mình, mọc cánh mà bay lên tiên. Vì thế uống rượu vui lắm, rồi gõ vào mạn thuyền mà hát. Hát rằng:

Thung thăng thuyền quế chèo lan,
Theo vầng trăng tỏ vượt làn nước trong. [6]
Nhớ ai canh cánh bên lòng,
Nhớ người quân tử [7] ngóng trông bên trời.

Trong bọn khách có một người thổi ống sáo, bèn theo bài ca của ta mà họa lại. Tiếng sáo não nùng rên rỉ như sầu như thảm, như khóc như than. Tiếng dư âm vẫn còn lanh lảnh, nhỏ tít như sợi tơ chưa dứt. Làm cho con giao long ở dưới hang tối cũng phải múa mênh, người đàn bà thủ tiết ở một chiếc thuyền khác [8] cũng phải sụt sùi.

Tô Tử buồn rầu sắc mặt, thu vạt áo, ngồi ngay ngắn mà hỏi khách rằng:

— Làm sao lại có tiếng não nùng làm vậy?

Khách đáp rằng:

— Câu “Minh nguyệt tinh hi, ô thước nam phi” [9] chẳng phải là câu thơ của Tào Mạnh Ðức đó ru? [10] Ðương khi Tào Mạnh Ðức phá đất Kinh Châu [11], xuống thành Giang Lăng [12], thuận dòng mà sang mặt đông, tàu bè muôn dặm, cờ tán rợp trời, rót chén rượu đứng trên mặt sông, cầm ngang ngọn giáo ngâm câu thơ, đó thực là anh hùng một thời, mà nay thì ở đâu? Huống chi tôi với bác đánh cá, kiếm củi ở trên bến sông này, kết bạn cùng tôm cá, chơi bời với hươu nai, bơi một chiếc thuyền nho nhỏ, nhấc chén rượu để mời nhau, gởi thân phù du ở trong [13], trời đất xem ta nhỏ nhặt như một hạt thóc ở trong biển xanh, thương cho sự sống của ta không bao lâu mà khen cho con sông này dài vô cùng [14]. Vậy mà muốn dắt tiên bay để chơi cho sung sướng, ôm lấy vầng trăng tỏ mà sống mãi ở đời. Tôi biết không làm sao được như vậy cho nên mới nảy ra tiếng rầu rĩ ở trong cơn gió thoảng!
Tô Tử nói:

— Vậy thế bác có biết nước và mặt trăng không? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ; mặt trăng khi tròn khi khuyết như vậy mà chưa từng thêm bớt bao giờ. Bởi vì ta tự ở nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ trong một cái chớp mắt; mà nếu tự ở nơi không biến đổi mà xem ra thì muôn vật cùng với ta đều không bao giờ hết cả; cần gì phải khen đâu! Vả lại ở trong trời đất, vật nào có chủ ấy, nếu không phải là của ta thì dẫu một ly ta cũng không lấy. Chỉ có ngọn gió mát ở trên sông cùng vầng trăng sáng ở trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy không ai cấm, dùng không bao giờ hết, đó là kho vô tận của tạo hóa mà cũng là cái vui chung của bác với tôi.

Khách nghe vậy, mừng mà cười, rửa chén lại, rót rượu uống lần nữa. Khi đồ nhắm hoa quả đã khan, mâm bát bỏ ngổn ngang, cùng nhau gối đầu ngủ [15] ở trong thuyền, không biết vầng đông đã sáng bạch tự lúc nào.

PHAN KẾ BÍNH dịch

CHÚ THÍCH:

[1]. Tức là năm thứ tư niên hiệu Nguyên Phong, đời Tống Thần Tông (1082); năm đó Tô Thức 46 tuổi.
[2]. Xích Bích là tên một dảy núi ở huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc, trên bờ sông Dương Tử. Năm thứ 13
niên hiệu Kiến An (208) Tào Tháo tự đất Giang Lăng đuổi đánh Lưu Bị; Bị cầu cứu tôn Quyền. Tướng Quyền là Chu Du dùng hỏa công đánh, thuyền của Tháo bị cháy sạch, quân Tào thua to. Hai bên bờ sông vì lửa đốt thành sắc đỏ, nên gọi là Xích Bích (vách đỏ). Tô Ðông Pha một lần bị trích ở đất Hoàng Châu. Hoàng Châu nay là huyện Hoàng Cương, cũng ở Hồ Bắc, nhưng ở về phía đông và cách xa huyện Gia Ngư. Ở Hoàng Châu có một dãy núi sắc đá đỏ, cũng gọi là Xích Bích. Ông Tô đi chơi ở dưới dãy núi ấy, làm ra bài phú này. Nhân vì trùng tên nên ông nhớ đến việc Tào Tháo, Chu Du ngày xưa mà nói đến trong bài (chú thích của Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu).
[3]. Thơ Minh Nguyệt tức thiên Nguyệt xuất, trong mục Trần phong ở Kinh Thi. Chương Yểu Ðiệu là
chương đầu thiên Nguyệt xuất.
[4]. Theo Cổ Văn Quan Chỉ thì núi ở phía đông.
[5]. Ngưu, đẩu là tên hai ngôi sao.
[6]. Nguyên văn có nghĩa là: đập vào ánh trăng ở trên nước (không minh) mà đi ngược dòng sáng (lưu
quang), tức dòng sông có ánh trăng chiếu vào.
[7]. Nguyên văn: mỹ nhân trỏ người quân tử ở triều.
[8]. Nguyên văn là chiếc thuyền cô quạnh.
[9]. Nghĩa là: trăng sáng sao thưa, quạ bay về nam.
[10]. Tào Mạnh Ðức tức Tào Tháo. Tháo kéo quân xuống đánh Giang Ðông, đóng trên sông Xích Bích,
nửa đêm trăng sáng, uống rượu say rồi cầm ngang ngọn giáo, đứng đầu thuyền hát một bài, trong đó có câu ấy.
Tới đây Phan Kế Bính đã bỏ, không dịch một câu mà nghĩa như vầy: “Phía tây trông sang Hạ Khẩu, phía
đông ngó sang Vũ Xương, sông núi uốn khúc, vây nhau, cây cối xanh tươi, um tùm; đó chẳng phải là nơi Tào Mạnh Ðức bị khốn với Chu Lang ư?”
Hạ Khẩu nay là Hán Khẩu ở Hồ Bắc, Vũ Xương cũng ở Hồ Bắc. Chu Lang tức Chu Du.
Chu Du bàn mưu với Gia Cát Lượng, dùng kế hỏa công đại phá quân Tào Tháo ở sông Xích Bích.
[11]. Kinh Châu: nay ở tỉnh Hồ Nam.
[12]. Theo thiển ý của chúng tôi, chấm câu như vầy có phần đúng hơn: “gởi thân phù du ở trong trời đất, nhỏ nhặt như một hạt thóc trong biển xanh.”
[13]. Dịch là “thèm cái lâu dài của con sông này” thì có phần đủ nghĩa hơn.
[14]. Dịch là “gối đầu lên nhau mà ngủ” thì có phần rõ hơn.

DỊCH THƠ:

BÀI PHÚ TIỀN XÍCH BÍCH

Năm Nhâm Tuất qua rằm tháng bảy,
Ông Tô công cùng mấy người quen,
Trên sông Xích Bích con thuyền,
Gió hiu hiu thổi, sóng êm êm dừng.
Cuộc mời khách tay nâng chén rượu,
Thơ Nguyệt minh Yểu điệu ngâm rền,
Non đông chợt thấy sáng lên,
Vầng trăng lơ lửng giữa chiền đẩu ngưu.
Móc ngang sông phau phau làn trắng,
Nước in trời loang loáng vẻ xanh,
Buông theo chiếc lá lênh đênh,
Ðè muôn đợt sóng mông mênh cõi ngoài.
Lồng lộng tựa lưng trời cỡi gió,
Mà biết rằng dừng đỗ nơi nao,
Nhởn nhơ thoát tục lên cao,
Hóa ra lông cánh bay vào cõi tiên.
Vui vẻ rượu nhắp liền mấy chén,
Gõ nhịp thuyền cất tiếng hát ran,
Hát rằng: “Chèo quế buồm lan,
Ðập tung ánh sáng, miết lên ngược dòng.
Xa thăm thẳm chạnh lòng tưởng nhớ,
Trông mỹ nhân cách trở phương trời.”
Khách liền thổi sáo họa bài,
Vo vo tiếng sáo như người khóc than.
Như mến tiếc căm hờn mọi nỗi,
Giọng ngân dài tựa mối tơ vương.
Hang sâu quằn quại thuồng luồng,
Thảm tình gái góa thuyền xuông sụt sùi.
Ông Tô xốc áo ngồi chỉnh chệ,
Hỏi khách sao buồn thế này ư?
Khách rằng: “Trăng sáng sao thưa,
Ðàn chim ô thước lững lờ về nam”.
Câu thơ ấy ai làm thủa trước,
Chẳng phải Tào Mạnh Ðức đó không?
Vũ Xương, Hạ Khẩu tây đông,
Nước non quanh quất mấy trùng xanh xanh.
Ấy chẳng phải Tào binh thuở nọ,
Bị Chu Lang đánh đổ đấy không?
Kinh Châu vừa mới phá xong,
Giang Lăng đạp đổ thuận sông xuôi thuyền.
Sông nghìn dặm chật liền tàu chiến,
Trời bốn phương che kín bóng cờ.
Giữa vời lọc rượu nhởn nhơ,
Quay ngang ngọn giáo ngâm thơ một bài.
Anh hùng nhất trên đời lừng lẫy,
Mà bây giờ nào thấy ở đâu,
Huống ta vớt củi buông câu,
Lứa đôi tôm cá, bạn bầu hươu nai.
Thuyền một lá vui chơi chèo chống,
Rượu lưng bầu êm giọng chuốc luôn.
Xác vờ gởi mặc kiền khôn,
Tẻo teo hạt thóc trong cồn bể xanh.
Thoáng một chốc kiếp sinh là mấy,
Khen con sông nước chảy khôn cùng.
Cắp tiên chơi chốn non Bồng,
Tay ôm chị nguyệt những mong trọn đời.
Biết không thể vật nài thế được,
Giọng buồn ngâm gởi trước gió bay.”
Ông Tô rằng: “Khách có hay,
Kìa kìa nước ấy trăng này đó không?
Nước kia vẫn xuôi dòng chảy xiết,
Mà chưa từng đi hết chút nao.
Trăng kia có lúc đầy hao,
Mà ta chưa thấy khi nào bớt thêm.
Cứ lúc biến mà xem trời đất,
Thì chẳng qua chớp mắt mà thôi.
Cứ khi không biến mà coi,
Thì ai ai cũng lâu dài như nhau.
Vả thử ngẫm trong bầu vũ trụ,
Có vật gì không chủ đâu mà.
Vật gì chẳng phải của ta,
Dẫu từ một mảy chớ hòa nhúng tay.
Chỉ trên nước hây hây gió thổi,
Với sườn non vòi vọi trăng treo,
Tai nghe văng vẳng tiếng reo,
Mắt trông thấp thoáng có nhiều vẻ tươi.
Mặc sức lấy nào ai dám giữ,
Tha hồ tiêu vẫn cứ chứa chan,
Của trời kho đụn vô vàn,
Mà đôi ta hãy chơi tràn là vui.
Khách mừng rỡ miệng cười tay rót,
Nhắm cạn rồi mâm bát ngổn ngang,
Kề lưng dựa gối trong khoang,
Quá say nào biết đã tang tảng ngày.

ÐÀO NGUYÊN PHỔ dịch

Trích: ‘Cổ văn Trung quốc’ của Nguyễn hiến Lê. Tao Đàn xuất bản.

THƯ PHÁP THIỀN [1]

January 3rd, 2008

image-47.jpg

 image-2.jpg

image-24.jpg

LỊCH SỬ

Thật khó để nói về lịch sử thư pháp Thiền; dĩ nhiên, nó liên quan với lịch sử Phật giáo Thiền nhưng không phải chỉ riêng như vậy. Có thể đồng ý với nhau rằng có thư pháp ở Trung Hoa trước khi có Thiền tông – chẳng hạn, thư pháp chữ thảo của thánh thi Vương Hy Chi (Wang Xizhi), sống vào khoảng 200 trước khi Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc sang. Ngay cả sau khi Phật giáo Thiền được truyền bá ở Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản, không phải hoàn toàn các nhà thư pháp thiền đều là người của Thiền tông.
Không có mẫu mực nào còn lưu lại từ nét vẽ Sơ tổ Thiền tông Trung Hoa (một trong số các vị tổ ấy, ngài Huệ Năng, là không biết chữ). Hai nhân vật kỳ đặc của Trung Hoa vào thế kỷ thứ 8 thường được xem là biểu tượng của thư pháp Thiền – “Zhang say” và “Sư cuồng Huai”. Sau khi nốc vào một lượng lớn rượu, Zhang tấp những chữ “cuồng thảo” lên bất kỳ chỗ nào ngay tầm tay – tường, thân cây, nồi, áo quần. Có khi anh ta nhúng đầu tóc mình vào mực rồi viết bằng đầu tóc. Cũng tương tự như vị đệ tử điên của ông ta, sư Huai, nổi tiếng với việc dùng lá chuối thay cho giấy mà sư mua không nổi. Tuy nhiên,sư lại kiếm tiền để uống rượu, và viết vào những lúc say khướt.
Thực tế các hành vi buồn cười ấy lại không được tán thành bởi phần lớn các vị trú trì của Thiền tông. Những biểu hiện thiếu nghiêm túc đều không được chấp nhận: Hầu hết các tác phẩm do các tăng sĩ Trung Hoa viết từ thế kỷ thứ 10 đến thứ 13 đều tiêu biểu cho sự nghiêm túc sâu lắng, sinh động, nhưng tao nhã và kín đáo. Các nhà thư pháp Trung Hoa có uy tín trong thơì kỳ này gồm những Nho sĩ như Tô Đông Pha và Huang Tingjian (Ko Teiken; 1045-1105); và thiền sư Yuanwu Keqin; Engo Kokugon; 1063-1135); Wujun Shifan (Bushan Shiban; 1177 – 1249), Xutang Zhiyu (kido Chigu; 1185-1296); Zhang Jizhi (Co Sokushi; 1186 – 1286); Lanqi Daolong (Rankei Doryu; 1203 – 1268); Wuxue Ziyuan (Mugaku Sogen; 1226 – 1286); Yishan Yining (Issan Ichinei: 1247 – 1371); Gulin Quingmao (Kurin Seimu; 1261 – 1323), và Liaoan Qingyu (Ryoan Seiyoku; 1288 – 1363).
Thư pháp của Eisai (1141 – 1215) và Đạo Nguyên Dogen (1200 – 1253), hai Tăng sĩ Nhật Bản khai sáng tông Lâm Tế và Tào Động nơi quê hương mình,đã có những nhét tương đồng với các bậc thầy Trung Hoa với phong cách nghiêm túc, tự chủ, và sinh động. Daito Kokushi, vị khai sơn chùa Daitokuji (Đại Đức Tự) ở Kyoto, có lẽ là người đầu tiên hoa quyện hai phong cách thư pháp Trung Hoa và Nhật Bản. Chùa Daitokuji đã tạo nên một lớp hậu duệ gồm các nhà thư pháp nổi tiếng, đến mức có thể gọi là “một trường phái” thư pháp Thiền. Trường phái thư pháp chùa Daitokuji là lâu đời nhất và đông đảo nhất. Các nhà thư pháp Nhật Bản khác được kể đến trog thời kỳ này là Muso (1276 – 1351); Kokan (1278 – 1346), Ikkyu (1349 – 1478).
Vào nửa thời gian đầu thời kỳ Edo, các nhà thư pháp sau đặc biệt nổi tiếng: Kogetsu (1571-1643); Takuan (1573-1645); và Seigan (1588-1661); tất cả  các vị ấy đều từ chùa Daitokuji; Fugai (1568-1650); Shinetsu (1642-1696) và Manzan (1636-1715) từ tông Tào Động; và Bankei (Bàn Khuê Vĩnh Trác; 1622-1693); và Munnan (d-1676) thuộc tông Lâm Tế.

image-5.jpg

image-25.jpg

 Thiền tự an trú mình giữa hai cực của khái niệm “ 無” của Munnan; và “Hữu 有” của Nyoten.  Cùng toàn thể bài kệ là dòng chữ 有如浮雲 Hữu như phù vân.

image-45.jpg

 

image-6.jpg

 

image-46.jpg

Theo sau sự sáng lập tông Hoàng Bá (Obaku) thuộc Thiền tông ở chùa Mampukuji năm 1694, một dạng thư pháp mới của Trung Hoa được truyền vào Nhật Bản.  Thư pháp của Hoàng Bá đậm hơn, mạnh hơn, thảo hơn so với thư pháp thế kỷ trước.  Không như tông Tào Động và tông Lâm Tế vốn nhanh chóng hòa nhập vào văn hóa Nhật Bản, tông Hoàng Bá vẫn giữ khoảng cách khuynh hướng Trung Hoa trong kiến trúc thiền viện, lối tu tập, thực phẩm, và thư pháp.  Trong số những nhà thư pháp trường phái Hoàng Bá là Ẩn Nguyên (Ingen), trụ trì chùa Vạn Phúc tự (Mampukuji).

image-48.jpg

Thế kỷ thứ 18 và 19 đánh dấu thời kỳ hoàng kim của thư pháp thiền Nhật Bản.  Bạch Ẩn (Hakuin 1685-1768); Jiun (1717-1804); Torei (1721-1792); Sengai (1750-1837); Ryokan (1758-1831); Nanzan (1756-1839) là những nhân vật sinh động trong thời kỳ nầy, cho ra đời một số lượng lớn các tuyệt tác.

Trong thề kỷ nầy, các thiền sư như Nantembo (1839-1925) và Gempo (1865-1961) đã thự hiện thư pháp không thua kém gì các bậc thầy đời trước.  Thư pháp ngày nay, Rohis nhiệt tâm theo đuổi và trú trì các thiền viện lớn thuộc các tông phái đều phải dành nhiều thời gian mỗi tuần để thể hiện những tác phẩm thư pháp thích hợp để đáp ứng yêu cầu của Phật tử, như món quà dành tặng cho người thân và môn đệ, hoặc để trưng bày trong những dịp lễ.  Chắc chắn một số các thư pháp dạng nầy sẽ được đánh giá rất cao bỡi các thế hệ sau khi họ biết rằng đó là tác phẩm của các nhà thư pháp thiền lớn trong thế kỷ trước.

John Stevens

Thích Nhuận Châu dịch

Trích từ THƯ PHÁP LINH TỰ ĐÔNG PHƯƠNG

PHỤ LỤC

Chinese Grass Script

This is an Example of Grass (caoshu) Script

There are different Chinese scripts. The picture below is an example of Grass Script. This rubbing was taken from an engraving of the work of Wang Xizhi ‘Vương Hy Chi’ (4th century AD), one of China’s most famous calligraphers, with whom this style is associated. Strokes could be joined and several characters written with one continuous flow of the brush, which often makes it difficult to read. Sometimes referred as “a shorthand scrawl,” whose highly abbreviated characters cannot be recognized without special study. It has a loose, swiftly flowing elegance of its own.

language-grass-script.jpg

Chinese Running or Cursive Script

This is an Example of Cursive Script.

This is an example of Cursive Script. This cursive style of calligraphy by Wen Zhengming (1470-1559) has been called “The Dance of the Brush.” It is used as a means of artistic expression: the character itself is less important than its expressive quality.

language-cursive-script1.jpg
Chinese Seal Scripts

This Example of Seal Script was used on a Zhou Dynasty Bronze Vessel.

This is an example of Seal Script. These may be thought as in some sense “drawn,” curvilinear, and with little variation in line thickness. They range from Oracle Bone writing to the Small Seal style officially adopted by the Qin Dynasty.

language-seal-script.jpg

Three Kinds of Archaic Graphs and their Transitions to Modern Characters

Top Row: Complex single-element graphs whose modern parallels are direct descendants of archaic forms.

Middle Row: Simple multiple-element graphs lacking modern equivalents.

Bottom Row: Complex multi-element graphs with either modern descendants or equivalents.

language-oracle-bone1.jpg

 

Xem tiếp:

Lâm Giang Tiên

December 3rd, 2007

Tam Quốc Diễn Nghĩa Chủ Đề Khúc

三國演義主題曲

【临江仙】 – 杨慎。。。
滚滚长江东逝水,浪花淘尽英雄。
是非成败转头空:青山依旧在,几度夕阳红。
白发渔樵江渚上,惯看秋月春风。
一壶浊酒喜相逢:古今多少事,都付笑谈中。
Download Lâm Giang Tiên
Nhạc chủ để trong phim Tam Quốc Diễn Nghĩa

Lâm Giang Tiên

Dương Thận

Cổn cổn trường giang đông thệ thuỷ,
Lãng hoa đào tận anh hùng.
Thị phi thành bại chuyển đầu không:
Thanh sơn y cựu tại,
Kỉ độ tịch dương hồng.
Bạch phát ngư tiều giang chử thượng,
Quán khan thu nguyệt xuân phong.
Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng:
Cổ kim đa thiếu sự,
Đô phó tiếu đàm trung .

lamgiangtien.jpg

青山依旧在,几度夕阳红

Thanh sơn y cựu tại, Kỉ độ tịch dương hồng

Thế gian trãi mấy cuộc binh đao chiến loạn, thiên hạ anh hùng cũng máu đổ đầu rơi.  Tránh sao được vô thường nơi trần thế?  Mới đêm nào cuộc rượu hân hoan mừng chiến thắng, mà nay thân đã phơi ngoài nơi chiến địa.  Còn nhớ, Vân Trường quá ngũ quan trảm lục tướng, thiên uy dũng khí vang dội khăp bốn phương; Châu Du cười vui đắc chí, Lưu Bị Tào Tháo luận anh hùng…. tất cả rồi cũng theo Trường Giang đông khứ, vết mây xa xăm nghìn trùng.  Thi văn và kẻ sĩ, chỉ vỏn vẹn mấy câu từ, mà ý khí đã tuôn tràn khắp trời đất, lũ lượt kéo về theo cái khí hạo nhiên của Đưòng – Tống triều thuở nào.  Đọc từ của Dương Thận triều Minh làm ta nhớ đến đôi câu của Đường Đổ Phủ trong bài Đăng Cao:

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há, Bất tận trường giang cổn cổn lai“.
“Miên man lá rụng điêu linh, Nước sông cuồn cuộn mông mênh chảy dào” [Trần Trọng Kim dịch]

và Tô Đông Pha của Tống triều “Đại giang đông khứ ,lãng đào tận thiên cổ phong lưu nhân vật
“Trường Giang sóng cuộn về đông, phong lưu cũ mới theo dòng ly tan”.  [Hoa Sơn dịch]

Núi non vẫn hoài đó, đã mấy độ chiều nghiêng bóng xế mà đời người kiếp kiếp nổi trôi ngụp lặn trong cuộc thị phi thành bại.  Ngư phủ, tiều phu an nhiên thế ngoại, loạn thời bạch phát mà vẫn ung dung chén rượu hỉ hoan tương phùng.
Nghìn năm nước chảy có bao giờ về, tiến trình lịch sử rồi cũng chỉ là một nụ cười, “Giang sơn tiếu , yên vũ dao , đào lãng đào tận , hồng trần tục sự tri đa thiếu?” (Thương hải nhất thanh tiếu – Tiếu Ngạo Giang Hồ).  Đoạn kết của từ điệu Lâm Giang Tiên cũng gợi cho ta thấy cái ý tại ngôn ngoại “Cổ kim đa thiểu sự, đô phó tiếu đàm trung“, xưa nay những sự việc trên đời rồi cũng phó vào trong những cuộc tiếu đàm (của nhân gian) mà thôi.

Hoa Sơn

DỊCH THƠ:

Điệu Lâm Giang Tiên

Nước Trường Giang về đông chảy xiết
Sóng cuốn trôi đi hết anh hùng
Đúng sai thành bại hóa không
Thanh sơn một dãy hoài cùng tháng năm.
Trãi mấy độ tà dương nguyệt khuyết
Bạc trắng ngư tiều, đảo trên sông
Gió trăng thu lại xuân nồng
Một bầu rượu đục tương phùng hỉ hoan
Xưa nay muôn sự hợp tan,
Không ngoài cuộc rượu nhân gian tiếu đàm.

Hoa Sơn dịch

yangshen.jpg

Dương Thận (1488 – 1559)