Archive for the tag 'thánh nhân'



THIÊN THƯỢNG 26

December 24th, 2007

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU

重為輕根,靜為躁君。是以聖人終日行不離輜重。雖有榮觀,燕處超然。奈何萬乘之主,而以身輕天下?輕則失根,躁則失君。

PINYIN

zhòng wèi qīng gēn,jìng wèi zào jūn 。shìyǐ shèngrén zhōngrì xíng bùlí zīzhòng。suī yǒu róng guān,yàn chù chāo rán。nàihé wànchéng zhī zhǔ,ér yǐ shēn qīng tiānxià?qīng zé shī gēn,zào zé shī jūn。

PHIÊN ÂM

Trọng vi khinh căn , tĩnh vi táo quân .  Thị dĩ thánh nhân chung nhật hành bất li tri trọng .  Tuy hữu vinh quan , yên xử siêu nhiên .  Nại hà vạn thặng chi chủ , nhi dĩ thân khinh thiên hạ ? khinh tắc thất căn , táo tắc thất quân .

ANH NGỮ

Heaviness is the root of lightness…
Heaviness is the root of lightness.
Composure is the ruler of instability.
Therefore the sage travels all day
Without putting down his heavy load.
Though there may be spectacles to see
He easily passes them by.
This being so
How could the ruler of a large state
Be so concerned with himself as to ignore the people?
If you take them lightly you will lose your roots.
If you are unstable, you will lose your rulership.

Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

Nặng là gốc rễ của nhẹ, tĩnh là chủ của náo động; Cho nên thánh nhân (tức vua) suốt ngày đi không lìa xe chở đồ dùng (nặng) tuy được sự sang đẹp mà lòng nhàn tĩnh vượt lên cả (coi thường ngoại vật).
Ông vua một nước có vạn cỗ xe (một nước lớn) sao lại có thể lấy thân coi nhẹ thiên hạ? Nhẹ thì mất gốc rễ, náo động thì mật chủ.

LỜI BÀN

 

Chữ quan trong câu nhì có thể đọc là quán; vinh quán là chỗ ở sang trọng.
Cái gì nặng thì chế ngự được cái nhẹ; cái gì tĩnh thì chế ngự được cái náo động. Nặng, tĩnh là “thường” (trái với biến); nhẹ, náo động là biến. Người theo đạo giữ “thường” mà bỏ biến.
Lão tử khuyên các nhà cầm quyền phải dè dặt, thận trọng, và đừng để cho ngoại vật, vinh hoa phú quý làm động lòng.

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

TỪ NGỮ

圣人(聖人) thánh nhân 【shèngrén】 n. sage, saint 

躁 táo 【zào】 mạnh mẽ, dữ dội, impetuous

君 quân 【jūn】 vua chúa, người thống trị, supreme ruler

是以 thị dĩ 【shìyǐ】 conj. vì vậy, cho nên, therefore; hence

终日[終-] chung nhật 【zhōngrì】 n. all day (long)

不离[-離] bất li 【bùlí】 not far off; not bad

辎重[輜-] 【zīzhòng】 n. hành lý, impedimenta

榮[荣] vinh 【róng】 honor

觀(S观) quán, quan 【guān】 view; 道觀 đạo quán temple

燕 yến 【yàn】 pleasure; joy – 處(S处) xử 【chù】 manage

超然 siêu nhiên 【chāorán】 ①xa rời, lánh xa, aloof; detached; independent ②siêu việt, hơn hẳn, transcendent

奈何 nại hà 【nàihé】 tại sao, why?, for what reason?, how handle?

万乘 vạn thặng [萬-] 【wànshèng】 n. vua, the emperor

而 nhi 【ér】 conj. and; and yet;然而 【rán’ér】 yet

[Hoa Sơn bổ sung phần từ ngữ]

Pháp

December 20th, 2007

PHÁP

法,即法則。世閒一切萬物,皆有定理,皆有軌範。人類亦然,其法尤周密。故各國聖人,皆有使人行入正軌之法,如禮教,法律,規約等是也。我佛世尊所說之法,雖不止此,然於人生法,亦大致相同。其尤要者,是在教吾人守五戒,行八正道,以不失人格,故人應當學佛法。

PHIÊN ÂM

Pháp ,tức pháp tắc . Thế gian nhất thiết vạn vật , giai hữu định lí , giai hữu quỹ phạm . Nhân loại diệc nhiên , kì pháp vưu chu mật . Cố các quốc thánh nhân , giai hữu sử nhân hành nhập chính quỹ chi pháp , như lễ giáo , pháp luật , quy ước đẳng thị dã .
Ngã phật thế tôn sở thuyết chi pháp , tuy bất chỉ thử , nhiên ư nhân sinh pháp , diệc đại trí tương đồng . Kì vưu yếu giả , thị tại giáo ngô nhân thủ ngũ giới , hành bát chính đạo , dĩ bất thất nhân cách , cố nhân ưng đương học phật pháp .

Tác giả – Tác phẩm

Đây là bài thứ hai trong quyển 1 sách Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

TỪ NGỮ

Định lý: lý lẽ nhất định, định lý
Quỹ phạm: mẫu mực, tiêu chuẩn, khuôn phép, phép tắc
Chu mật: tỉ mỉ, chu đáo
Chính quỹ: đường chính, đường đúng
Thế tôn: từ dùng để tôn xưng Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni
Ngũ giới: năm điều cấm của đạo Phật: sát sinh, trôm cắp, tà dâm, nói xằng, và uống rượu.
Bát chính đạo: tám con đường giải thoát khỏi bể khổ, gồm có: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, và chính định.

NGỮ PHÁP

tức: tức là, chính là
thị dã: đó là, chính là, là như thế vậy (một hình thức đảo trí tân ngữ ra trước thường dùng trong một kết cấu định nghĩa, gồm dại từ 是 và trợ từ 也 , tương đương với 是。。。也 nhưng 是 lại được đưa ra phía sau đi chung với 也
tuy bất chỉ thử: dù không chỉ (có) thế.
ư: về, đối với (giới từ)
đại trí: đại để, đại khái, về căn bản (phó từ)
kỳ vưu yếu giả: điều càng quan trọng hơn là …
ưng đương: nên, phải, cần phải (phó từ)

DỊCH NGHĨA

 

Pháp, tức là phép tắc. Tất cả muôn sự muôn vật trong thế gian này, vật nào cũng đều có lý nhất định và đều có khuôn mẫu của nó. Loài người cũng thế, nhưng khuôn phép của loài người càng chu đáo hơn. Cho nên các bực Thánh nhân trong mỗi nước, vị Thánh nhân nào cũng đều có những phương pháp làm cho con người đi vào con đường chân chánh như: lễ giáo, pháp luật và quy ước…
Còn phương pháp của đức Thế Tôn chúng ta dạy không những thế thôi, đối với phương pháp dạy người đời, chỗ đại khái cũng rất giống nhau. Nhưng chỗ cốt yếu hơn hết là dạy chúng ta mỗi người cần phải giữ gìn năm giới cấm và thực hành theo pháp “Bát chánh đạo”, để cho khỏi mất tư cách làm người, vì lẽ ấy chúng ta cần phải học Phật pháp.

 

Thích Hành Trụ dịch

Xem thêmPhật

Ngư phủ

November 28th, 2007

SỞ TỪ

漁父

屈原既放,游於江潭,行吟澤畔,顏色憔悴,形容枯槁。
漁父見而問之曰:”子非三閭大夫與!何故至於斯?”
屈原曰:”舉世皆濁我獨清,眾人皆醉我獨醒,是以見放。”
漁父曰:”聖人不凝滯於物,而能與世推移。世人皆濁,何不淈其泥而揚其波?眾人皆醉,何不餔其糟而歠其醨?何故深思高舉,自令放為?”
屈原曰:”吾聞之,新沐者必彈冠,新浴者必振衣;安能以身之察察,受物之汶汶者乎?寧赴湘流,葬於江魚之腹中。安能以皓皓之白,而蒙世俗之塵埃乎!”
漁父莞爾而笑,鼓枻而去,乃歌曰:”滄浪之水清兮,可以濯吾纓;滄浪之水濁兮,可以濯吾足。”遂去,不復與言 。

PHIÊN ÂM

Ngư phủ

Khuất Nguyên ký phóng, du ư giang đàm, hành ngâm trạch bạn,  nhan sắc tiều tuỵ, hình dung khô cảo .
Ngư phủ kiến nhi vấn chi viết: “tử phi tam lư đại phu dữ !hà cố chí ư tư ?”
Khuất Nguyên viết : “cử thế giai trọc ngã độc thanh ,chúng nhân giai tuý ngã độc tỉnh ,thị dĩ kiến phóng .”
Ngư phủ viết : “thánh nhân bất ngưng trệ ư vật ,nhi năng dữ thế thôi di. Thế nhân giai trọc, hà bất quật kì nê nhi dương kỳ ba ? Chúng nhân giai tuý, hà bất bô kì tao nhi xuyết kì ly ? Hà cố thâm tư cao cử ,tự lệnh phóng vi ?”
Khuất Nguyên viết : “ngô văn chi, tân mộc giả tất đàn quan, tân dục giả tất chấn y; an năng dĩ thân chi sát sát, thụ vật chi vấn vấn giả hồ ? Ninh phó tương lưu, táng ư giang ngư chi phúc trung, an năng dĩ hạo hạo chi bạch ,nhi mông thế tục chi trần ai hồ !”
Ngư phủ hoản nhĩ nhi tiếu ,cổ thể nhi khứ ,nãi ca viết: “Thương lãng chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trạc ngô anh; Thương lãng chi thuỷ trọc hề ,khả dĩ trạc ngô túc.”  Toại khứ ,bất phục dữ ngôn.

Tác giả – Tác phẩm:

Bài nầy là truyền thuyết do người nước Sở ghi lại để tưởng nhớ Khuất Nguyên sau khi ông đã qua đời.  Nhân vật Khuất Nguyên (340-278 trước CN) là tác giả chính của những bài “Sở từ” nổi tiếng.  Ông tên thật là Bình, người trong hoàng tộc nước Sở, học rộng, nhiều tài, nhưng bị vua ghét bỏ vì nghe lời gièm pha của kẻ xấu, buồn bã mới viết ra thiên “Ly tao” để bộc bạch nỗi lòng, sau ôm một phiến đá nhảy xuống sông Mịch La tự vận.  Còn “Sở từ” là một hình thức ca dao mới được Khuất Nguyên và một số người khác làm ra trong khoảng thế kỷ thứ III, IV trước CN trên cơ sở gia công, sáng tạo và phát triển từ những ca dao dân gian đương thời; có thể coi Sở từ là một loại văn xuôi có vần, đến đời Hán mới được tập hợp chung lại thành tập sách.

DỊCH NGHĨA:

Khuất Nguyên đã bị đuổi bỏ, thơ thẩn ở bên bờ sông bờ đầm, vừa đi vừa hát ở bên chằm, nhan sắc tiều tụy, hình dung khô héo.  Có ông lão đánh cá trông thấy, hỏi:
– Ông phải là Tam lư đại phu đấy chăng? SAo mà đến nỗi thế?
Khuất Nguyên đáp:
– Thiên hạ đều đục, một mình ta trong, thiên hạ đều say, một mình ta tỉnh, cho nên bị đuổi bỏ.
Ông lão đánh cá nói:
– Thánh nhân không câu nệ việc gì mà biết tùy thời thay đổi.  Người đời đều đục thì sao không khuấy thêm bùn, đập thêm sóng cho đục một thể? Thiên hạ đều say thì sao không ăn cả men, húp cả bã cho say một thể? Việc gì mà phải nghĩ sâu, làm khác người để bị đuổi bỏ?
Khuất Nguyên đáp;
– Tôi nghe nói, mới gội đầu tất chải mũ, mới tắm xong tất thay áo; có đâu đem cái thân trong sạch mà chịu vật nhơ nhớp được?  Thà nhảy xuống sông Tương, vùi thân trong bụng cá, chứ sao đang trắng lôm lốp mà chịu vấy bụi cát của thế tục?
Ông lão đánh cá nghe xong, mỉm cười, gõ giầm hát rằng:
Sông Thương nước chảy trong veo,
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.
Sông Thương nước đục chảy ra,
Thì ta lội xuống để mà rửa chân
“.
Hát xong, đi thẳng, không thêm một lời.

Nguyễn Hiến Lê dịch
Trung Quốc văn học sử, tập I