Archive for the tag 'tapir'



TIÊU DAO DU [2]

December 31st, 2007

CHƯƠNG MỘT

THẢNH THƠI TỰ TẠI

【逍遙遊第一】  

堯讓天下於許由,曰:「日月出矣而爝火不息,其於光也,不亦難乎!時雨降矣而猶浸灌,其於澤也,不亦勞乎!夫子立而天下治,而我猶尸之,吾自視缺然。請致天下。」許由曰:「子治天下,天下既已治也。而我猶代子,吾將為名乎?名者,實之賓也,吾將為賓乎?鷦鷯巢於深林,不過一枝;偃鼠飲河,不過滿腹。歸休乎君,予無所用天下為!庖人雖不治庖,尸祝不越樽俎而代之矣。」

PHIÊN ÂM

Nghiêu nhượng thiên hạ ư Hứa Do ,viết :「Nhật nguyệt xuất hĩ ,nhi tước hoả bất tức ,kì ư quang dã ,bất diệc nan hồ !thời vũ giáng hĩ ,nhi do tẩm quán ,kì ư trạch dã ,bất diệc lao hồ !phu tử lập nhi thiên hạ trị ,nhi ngã do (du) thi chi ,ngô tự thị khuyết nhiên ,thỉnh trí thiên hạ .」
Hứa Do viết :「Tử trị thiên hạ ,thiên hạ kí dĩ trị dã ,nhi ngã do (du) đại tử ,ngô tương vi danh hồ ? Danh giả ,thật chi tân dã ,ngô tương vi tân hồ ? Tiêu liêu sào ư thâm lâm ,bất quá nhất chi ;yển thử ẩm hà ,bất quá mãn phúc . Quy hưu hồ quân !Dư vô sở dụng thiên hạ vi . Bào nhân tuy bất trị bào ,thi chúc bất việt tôn trở nhi đại chi hĩ .」

DỊCH NGHĨA

Vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho Hứa Do (1), bảo:
– Mặt trời, mặt trăng đã xuất hiện, đuốc làm sao còn sáng được nữa mà không tắt đi? Mưa đã đổ mà còn tưới ruộng làm gì cho phí sức? Phu tử (2) mà lên ngôi thì nước sẽ trị; tôi còn giữ hư vị này (như người đại diện cho người chết trong tang lễ), tự lấy làm xấu hổ. tôi xin giao thiên hạ cho phu tử.
Hứa Do đáp:
– Nhà vua trị nước, mà nước được bình trị. Bây giờ tôi lên thay, thế là cầu danh ư? Danh là khách của cái thực (3), tôi đóng cái vai khách sao? Con chim tiêu lieu (một loài chim nhỏ) , làm tổ trong rừng, chiếm bất quá một cành cây; con “yển thử” (4) uống nước sông, bất quá đầy bụng thì thôi. Xin nhà vua cứ giữ ngôi. Tôi có biết dùng thiên hạ làm gì đâu. Nếu người bếp mà không biết nấu ngướng thì người đại diện cho người chết (5) và người chủ tế cũng không bỏ chức vụ của mình mà thay người bếp được.

Nguyễn Hiến Lê dịch

CHÚ THÍCH

(1) Hứa Do: là một ẩn sĩ thời cổ, tự là Vũ Trọng, tương truyền vua Nghiêu nhường ngôi cho ông, ông không nhận, trốn vào núi ở.
(2) Vua Nghiêu trọng Hứa Do như bậc thầy mình nên gọi là “phu tử”
(3) Nghĩa là danh chỉ là “hư”
(4) Yến có nghĩa là tiềm phục, nép. Có sách bảo yển thử là một con vật hình giống con bò; Liou Kia Hway dịch là con tapir (con mạch).
(5) Nguyên văn là “thi”, người đại diện người chết trong tang lễ để con cái khi tế thấy như cha mẹ còn ngồi đó; do đó mà sau trỏ cái thây.

Xem {{post id=”tieu-dao-du-1″ text=”TIÊU DAO DU [1]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-3″ text=”TIÊU DAO DU [3]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-4″ text=”TIÊU DAO DU [4]”}}