Archive for the tag 'RYOKAN'



Các nhà thư pháp thiền [3]

February 2nd, 2008

NHẤT HƯU TÔNG THUẦN

(Ikkyu Sojun 1394 – 1481)

 

image-331.jpg

 

Nhất Hưu là con không hợp pháp của hoàng đế Gokomatsu, được nuôi lớn trong một thiền viện. Sau khi sư phụ mình là thiền sư Káo (Hoa Tẩu Tông Đàm) viên tịch, năm 1284, Ikkyu bắt đầu cuộc sống du phương, từ chối việc nhận trú trì thiền viện hoặc thu nhận đệ tử. Ông phản ứng thói đạo đức giả của các vị sư bạn ông khi sư không cần giấu giếm sự ưa thích cá thịt, rượu và sắc dục. Ngay cả đối với cương vị thiền sư, thói quen của ông quả là lạ lùng. Tuy nhiên, sư có rất nhiều người ủng hộ và được cử làm vị trú trì thứ 47 của chùa Daitokuji (Đại Đức tự) khi sư đã 80 tuổi. Sư đảm nhiệm việc trông coi trùng tu toàn bộ ngôi chùa, vốn bị cháy trong cuộc chiến tranh Onin. Thiền sư Ikkyu có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của hầu hết mọi nghệ thuật thiền – thư pháp, hội họa, trà đạo, kịch nô (Noh) và vườn cảnh.

 

Những giai thoại về tính hóm hỉnh và lập dị của sư đã giữ cho sư là một nhân vật gần gũi trong sự tưởng tượng của mọi người.

 

Thư pháp của Nhất Hưu phản ánh đúng tính cách của sư – thuần phác và độc đáo với một phẩm cách khắc nghiệt, hầu như là dữ dội.

 

TAKUAN (1573 – 1645)

 

image-34.jpg

 

Cũng như Nhất Hưu, Takuan xuất gia rất sớm, du phương rất nhiều nơi, và trở thành trú trì chùa Đại Đức tự. Sư bị quấy rầy bởi các chính khách quân đội trong một thời gian, nhưng rốt cục lại thích Tướng quân Iemitsu và có rất nhiều đệ tử là Samurai.

 

Trong mọi công việc, Sư nổi tiếng với việc đặt tên cho món củ cải dầm với tác phẩm Fudoshisshim myoroku, luận giải về thiền và kiếm thuật.

 

Thư pháp của sư ít dữ dội hơn Nhất Hưu; rườm rà hơn, hơi mềm mại nhưng không thiếu phần mạnh mẽ.

 

image-7.jpg

 

BẠCH ÂN HUỆ HẠC

(Hakuin Ekaku 1685 – 1768)

 

image-36.jpg

 

image-37.jpg

Bạch Ân Huệ Hạc sinh ở quận Suruga, sư xuất gia ở một thiền viện vào năm 15 tuổi. Sư tu tập ở rất nhiều chùa trước khi trở thành trú trì Shoinji ở gần Nara. Sau đó, sư trùng tu chùa Ryutakuji ở Izu. Ngài có lẽ là nhân vật vĩ đại nhất trong tất cả các thiền sư họa sĩ, giới thư pháp thiền, và nhất là nhân vật trung tâm Tông Lâm Tế thiền tông Nhật Bản. Tông Lâm Tế, đã làm sống dậy pháp tu và lập nên hệ thống thiền công án mới.

Ngoài hội họa và thư pháp, sư còn trước tác nhiều sách và soạn nhiều bài hát bình dân. Sư sử dụng nhiều dạng thư pháp khi còn trẻ, nhưng những năm về sau, sư chuyên chú vào cách thể hiện gây ấn tượngnnhh của “nhất tự quan” (ichijikan), chỉ một chữ thật lớn cùng một bài thơ hoặc thiền ngữ với những chữ viết nhỏ hơn. Sự thành thạo riêng biệt của sư trong dạng thư pháp nầy không có ai vượt qua được.

image-381.jpg

TỪ VÂN ẨM QUANG (JIUN 1718 – 1804)

Hơn các nhà thư pháp khác, Jiun biểu tượng cho ý tưởng thư pháp linh tự (sacred calligraphy) của Đông phương. Sư là nhà nghiên cứu tiếng Sankrit đầu tiên ở Nhật Bản, lập trường học dạy thư pháp chữ Tất-Đàm. Thư pháp tiếng Hán của sư được đánh giá là kiệt tác trong thư pháp thiền. Jiun cũng là người sáng lập mộn phái Thần đạo Unden, có giáo lý chủ trương sự đồng nhất thể tính của Mật tông Phật giáo và Thần đạo.

image-39.jpg

image-40.jpg

TIÊN NHAI NGHĨA PHẠM

(SHENGAI GIBON 1750 – 1837)

image-26.jpg

image-41.jpg

Sengai, đối thủ chính của Bạch Ẩn như một họa sỹ thiền. Sinh trưởng ở vùng Mino, xuất gia vào lúc 11 tuổi, và làm tăng du phương khi 19 tuổi. Sau khi tu tập ở nhiều nơi, sư được cử trú trì chùa Shofukiji ở miền Nam Nhật Bản khi sư gần 40 tuổi. Hơn hai mươi năm sau, Sengai nghỉ ngơi và dành trọn cuộc đời còn lại cho hội họa, thư pháp và tiếp các vị khách của mình. Sư ít từ chối người xin tặng tranh hoặc thư pháp – dù rằng có một lần sư cáu tiết vì dòng thác đều đều của khách hiếu kỳ kéo đến, sư nhô đầu ra khỏi cửa và thông báo: “Hôm nay Sengai đi vắng” – thế nên sư đã sáng tác một số lượng tác phẩm đáng kể. Cũng như Bạch Ẩn, Sengai có cái nhìn hài hước về cuộc đời kết hợp với niềm ưu ái lớn lao.

image-42.jpg

a. Bổn lai vô nhất vật

b. Tâm ngoại vô pháp, mãn mục thanh sơn (Ngoài tâm chẳng có pháp, tất cả đều là núi xanh)

c. Minh viễn

Thư pháp của Sengai viết bằng chữ thảo nhưng rất rõ rành. Tính không thích khoa trương và phô diễn có thể thấy được trong nét chữ trôi chảy, tự nhiên của sư.

RYOKAN

image-8.jpg

Trở thành tăng sĩ vào khoảng lúc hai mươi tuổi và dành hai mươi năm làm một vị tăng hành cước trước khi trở về lại Echigo (nay là Nigata), quê quán của sư, một quận hẻo lánh ở miền Bắc Nhật Bản. Dù sư sống trong một cốc nhỏ ở vùng rừng núi, sư vẫn thích sự thăm viếng của dân làng, chơi banh với trẻ con, uống rượu sake với nông dân, và làm thơ cùng với bạn bè. Về già, sư phải lòng một ni cô trẻ đẹp tên Teishin.

Có lần Ryokan nói rằng ông chỉ không thích 2 cái; “Thơ của một nhà thơ và thư pháp của nhà thư pháp”. Ý sư muốn nói, dĩ nhiên, những tác phảm mang tính khoa trương của giới chuyên nghiệp. Thư pháp của sư cực kỳ tinh tế và thuần khiết, thanh nhã nhưng không hoàn toàn yếu đuối. Không may, các mẫu thư pháp của sư trở nên có giá, nên nhiều bản giả mạo khéo léo được làm ra, và người ta cho rằng phải hơn một trăm bức thư pháp ký tên “Ryokan” mới có được một bức đích thực.

SƠN CƯƠNG THIẾT CHU

(Yaomaka Tesshu 1863-1888)

image-28.jpg

Tesshu sinh ở kinh đô Edo (nay là Tokyo), nhưng lớn lên ở Takayama. Ông tuổi thiếu niên, ông đã bắt đầu tập luyện kiếm thuật, thư pháp, và thiền. Là một võ sĩ trẻ,ông trở nên có dính líu với những xáo trộn trong những ngày cuối cùng của chính phủ quânđội và ông đóng vai trò năng động trong chính trị. Sau khi Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji) phục hưng đế chế vào năm 1868, ông giữ nhiều chức vụ trong triều chính sau đó, ông trở thành thư ký và cố vấn cho Thiên hoàng năm 1877. Tesshu là một trong rất ít người có thể được công nhận là bậc thầy của cả ba môn nầy.

image-9.jpg

image-10.jpg

Phương pháp thư họa của ông có thể được diễn tả như là “không phương pháp” – ông không dựa vào bất kỳ thứ gì hoặc bất kỳ phong cách riêng biệt nào. Tuy nhiên, trước khi đạt đến trình độ nầy, ông khẳng định, ta phải hoàn chỉnh nền tảng căn bản. Những học trò mới buộc phải tập viết chữ nhất (ichi) chữ một nét, trong vòng 3 năm (những kiếm sĩ cũng phải tập đường kiếm thẳng tương tự như nét bút trong cùng một thời gian). Ông còn dành một thời khóa nhất định trong ngày cho công phu chép kinh (shakyo).

Sau khi ngộ đạo vào năm 45 tuổi, Tesshu được ấn khả từ cả hai thiền sư Asari và Tekisui, được công nhận là tổ thứ 52 của trường phái thư pháp Jubokudo (do Hoằng Pháp Đại Sư – Kobo Daishi khai sáng). Sau khi lập trường phái Vô đao (j: Muto Ryu), Tesshu mở Thiền đường Shimpukan ở Tokyo. Dù bị đau ung thư dạ dày vào 4 năm cuối cùng của đời mình, Tesshu không bao giờ bỏ công phu hành thiền mỗi ngày, và ông đã qua đời trong tư thế toạ thiền.

 

 

John Stevens

Thích Nhuận Châu dịch

Trích từ THƯ PHÁP LINH TỰ ĐÔNG PHƯƠNG

Xem thêm:

THƯ PHÁP THIỀN [1]
THƯ PHÁP TỨC LÀ NGƯỜI[2]

PHỤ LỤC

CHỮ NHẤT

Đất trời một dãy nối đường mây
Chữ nhất vô tâm lượn nét ngài
Tư tưởng tập trung thân bút lạc
Tâm hồn thư thái phượng rồng bay
Thảo chơi cũng đạt tuồng thư pháp
Viết thật lại thành chuyện khéo tay
Tâm bút dể đâu mà hợp nhất
Khi lòng còn vướng cuộc trần ai

Hoa Sơn

Xuân Mậu Tý 2008

phaononm2.gif