Archive for the tag 'nho gia'



Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp

January 11th, 2008

齊人有一妻一妾

《孟子》
齊人有一妻一妾而處室者。其良人出,則必饜酒肉而後反。其妻問所與飲食者,則盡富貴也。其妻告其妾曰:良人出,則必饜酒肉而後反,問其與飲食者,盡富貴也。而未嘗有顯者來。吾將瞷良人之所之也。蚤起,施從良人之所之,遍國中無與立談者,卒之東郭墦間之祭者,乞其馀,不足,又顧而之他:此其為饜足之道也。其妻歸,告其妾曰:良人者,所仰望而終身也。今若此!與其妾訕其良人,而相泣於中庭。而良人未之知也,施施從外來,驕其妻妾。由君子觀之,則人之所以求富貴利達者,其妻妾不羞也而不相泣者,幾希矣!

PHIÊN ÂM

Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp

《Mạnh tử: Ly Lâu hạ 》

Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp nhi xử thất giả . Kì lương nhân xuất ,tắc tất yếm tửu nhục nhi hậu phản . Kì thê vấn sở dữ ẩm thực giả ,tắc tận phú quý dã . Kì thê cáo kì thiếp viết :”Lương nhân xuất ,tắc tất yếm tửu nhục nhi hậu phản ,vấn kì dữ ẩm thực giả ,tận phú quý dã . Nhi vị thường hữu hiển giả lai . Ngô tương gián lương nhân chi sở chi dã .”. Tảo khởi ,thi tòng lương nhân chi sở chi ,biến quốc trung vô dữ lập đàm giả ,tốt chi đông quách phiền gian chi tế giả ,khất kì dư ,bất túc ,hựu cố nhi chi tha :thử kì vi yếm túc chi đạo dã . Kì thê quy ,cáo kì thiếp viết :”Lương nhân giả ,sở ngưỡng vọng nhi chung thân dã , kim nhược thử !”. Dữ kì thiếp sán kì lương nhân ,nhi tương khấp ư trung đình . Nhi lương nhân vị chi tri dã ,thi thi tòng ngoại lai ,kiêu kì thê thiếp . Do quân tử quan chi ,tắc nhân chi sở dĩ cầu phú quý lợi đạt giả ,kì thê thiếp bất tu dã nhi bất tương khấp giả ,cơ hi hĩ !

Tác giả – Tác phẩm

Mạnh tử là một sách trong bộ Tứ thư, ghi chép học thuyết, lý luận của Mạnh Tử (tên thật là Kha, 372-289 trước CN), một đại nho gia có tầm ảnh hưởng chỉ đứng sau Khổng tử, qua nhiều cuộc tranh luận của ông với vua chúa và một số trí thức đương thời. Mạnh tử chủ trương tuyết tính thiện, đề xướng nhân nghĩa, phản đối thói vụ lợi và chiến tranh xâm lược, đề cao tinh thần dân chủ (qua câu nói: dân là quý nhất, rồi đến quốc gia, còn vua thì nhẹ). Về phương diện văn chương, có lẽ Mạnh tử là sách có giá trị nhất trong bộ Tứ thư, với lời văn hùng hồn, thâm thiết, dùng nhiều thí dụ dễ hiểu mà thú vị, lý luận chặt chẽ, đanh thép. Sách gồm y thiên (mỗi thiên đều chia làm thượng, hạ), đến đời Tống được Chu Hi chú giải và xếp vào bộ Tứ thư của Nho gia. Bài trên đây trích ở đoạn cuối thiên “Ly Lâu hạ“, chương thứ 33, là một chuyện ngụ ngôn thâm trầm sâu sắc, phê phán con đường tiến thân không biết tự trọng mà đầy cực nhục của người ta ở đời.

TỪ NGỮ

Tề nhân: người nước Tề
Thiếp: vợ lẽ
Lương nhân: từ người phụ nữ gọi chồng
Yếm: no nê
Hiển giả: người vinh hiển, người sang trọng
Gián: dò xem, rình xem
Chi: đi (động từ)
Tảo: sáng sớm (dùng như 早)
Thí: đi xiêu, đi ngoẹo, đi tắt (dùng như dĩ 逸)
Quốc: đây chỉ thành
Tốt: cuối cùng, sau cùng
Quách: tường xây quanh thành, thành ngoài
Phiền: phần mộ, mồ mả
Khất: xin ăn
Tha: nơi khác (đại từ chỉ thị)
Ngưỡng vọng: trông chờ
Chung thân: suốt đời
Sán: chê trách, kể xấu
Trung đình: trong sân, giữa sân (trước thềm nhà)
Thi thi: hớn hở
Kiêu: kiêu căng, lên mặt
Hi: ít

NGỮ PHÁP

Tương 相: cùng nhau (phó từ)
Nhược thử: như thế (cụm từ quen dùng)
: cơ hồ, hầu như

DỊCH NGHĨA

Người nước Tề có kẻ có một vợ cả một vợ lẽ mà cùng ở một nhà, người chồng đi ra ngoài thì tất say no rượu thịt rồi mới về. Vợ cả hỏi chồng cùng với những người nào ăn uống thì nói rằng hết thảy là những người phú quý cả. Người vợ cả đem lòng ngờ mà bảo riêng với vợ lẽ rằng: “Chồng ta đi ra ngoài, thì tất say no rượu thịt rồi mới về, hỏi cùng với những người nào ăn uống thì nói rằng hết thảy là những người phú quý, mà chửa từng có kẻ hiển giả nào lại chơi, ta sắp sửa đi dòm chồng ta đi những đâu”.
Người vợ lẽ trở dậy sớm, đi quanh theo hút người chồng đi những đâu, thì khắp trong nước không người nào cùng đứng nói chuyện với; cuối cùng thấy đi ra mé thành bên đông chỗ mả người ta cúng tế, xin lấy đồ cúng thừa mà ăn, chẳng đủ thì lại đoái mà đi ra nơi khác, ấy cái đạo say no chán đủ của anh chồng như thế đấy.
Người vợ cả về bảo người vợ lẽ rằng: “Chồng ta ấy, chúng ta còn phải trông nhờ vào suốt đời, mà nay như thế còn ngưỡng vọng nỗi gì!”. Rồi cùng với người vợ lẽ oán mỉa người chồng, cùng khóc với nhau ở trong sân. Mà người chồng chửa biết rằng sự mình đã bại lộ ra, còn hớn hở tự ngoài đi vào kiêu căng với hai bà vợ.
Cứ như người quân tử xem ra thì những người đi cầu phú quý lợi đạt kia mà vợ cả vợ bé người ấy lại chẳng xấu hổ mà chẳng khóc lóc với nhau ấy, ngõ hầu cũng ít lắm vậy.

Nguyễn Hữu TiếnNguyễn Đôn Phục dịch

Các ngôn kỳ chí

January 10th, 2008

LUẬN NGỮ

【各言其志】

子路、曾晳、冉有、公西華侍坐。子曰:”以吾一日長乎爾,毋吾以也。居則曰:’不吾知也!’如或知爾,則何以哉?”
  子路率爾而對曰:”千乘之國,攝乎大國之間,加之以師旅,因之以饑饉;由也為之,比及三年,可使有勇,且知方也。”
  夫子哂之。
  ”求,爾何知?”
  對曰:”方六七十,如五六十,求也為之,比及三年,可使足民。如其禮樂,以俟君子。”
  ”赤,爾何如?”
  對曰:”非曰能之,愿學焉。宗廟之事,如會同,端章甫,愿為小相焉。”
  ”點,爾何如?”
  鼓瑟希,鏗爾,舍瑟而作,對曰:”異乎三子者之撰。”
  子曰:”何傷乎?亦各言其志也!”
  曰:”暮春者,春服既成,冠者五六人,童子六七人,浴乎沂,風乎舞雩,詠而歸。”
夫子喟然嘆曰:”吾與點也!”

PHIÊN ÂM

Tử Lộ ,Tăng Tích,Nhiễm Hữu ,Công Tây Hoa Thị tọa . Tử viết :”Dĩ ngô nhất nhật trưởng hồ nhĩ ,vô ngô dĩ dã . Cư tắc viết :’Bất ngô tri dã !’Như hoặc tri nhĩ ,tắc hà dĩ tai ?”
  Tử Lộ suất nhĩ nhi đối viết :”Thiên thặng chi quốc ,nhiếp hồ đại quốc chi gian ,gia chi dĩ sư lữ ,nhân chi dĩ cơ cận ;do dã vi chi ,tị cập tam niên ,khả sử hữu dõng ,thả tri phương dã .”
  Phu tử sẩn chi .
  ”Cầu ,nhĩ hà như ?”
  Đối viết :”Phương lục thất thập ,như ngũ lục thập ,cầu dã vi chi ,tị cập tam niên ,khả sử túc dân . Như kì lễ nhạc ,dĩ sĩ quân tử .”
  ”Xích ,nhĩ hà như ?”
  Đối viết :”Phi viết năng chi ,nguyện học yên . Tôn miếu chi sự ,như hội đồng ,đoan chương phủ ,nguyện vi tiểu tướng yên .”
  ”Điểm ,nhĩ hà như ?”
  Cổ sắt hi ,khanh nhĩ ,xá sắt nhi tác ,đối viết :”Dị hồ tam tử giả chi soạn .”
  Tử viết :”Hà thương hồ ? diệc các ngôn kì chi dã !”
  Viết :”Mộ xuân giả ,xuân phục kí thành ,quán giả ngũ lục nhân ,đồng tử lục thất nhân ,dục hồ Nghi ,phong hồ Vũ Vu ,vịnh nhi quy .”
Phu tử vị nhiên thán viết :”Ngô dữ Điểm dã !”

Tác giả – Tác phẩm

Luận ngữ là một sách trong bộ Tứ thư của Nho gia, được trình bày dưới dạng “ngữ lục”, không theo một thứ tự logic nhất định, do môn đệ của Khổng tử ghi chép lại những lời dạy và việc làm của Khổng tử, với nội dung bao quát tư tưởng của Nho gia về mọi lĩnh vực: triết học, chính trị, văn học, giáo dục… Sách được định hình vào khoảng đầu thời Chiến quốc (480-221 trước CN), gồm 20 thiên. Bài trên đây trích ở thiên “Tiên tiến” (Thiên thứ 11), chương 26, ghi lại cuộc đối thoại về lý tưởng, chí hướng giữa thầy trò Khổng tử.

TỪ NGỮ

Tử Lộ ,Tăng Tích,Nhiễm Hữu ,Công Tây Hoa: đều là tên những học trò của Khổng tử
Nhất nhật: một ngày, cách nói khiêm tốn, hàm ý tuổi tác chênh lệch đôi chút
Vô ngô dĩ dã: chữ (dĩ) dùng như (dĩ) nghĩa là “thôi, dừng, gò bó”
: lúc bình thường
Suất nhĩ: vội vã, vội vàng, bộp chộp
Thiên thặng chi quốc: nước có ngàn cỗ xe (“thặng” là cỗ xe)
Nhiếp: bị bức bách, bị ép
Gia chi: thêm vào đó, lại thêm
Sư lữ: quân đội, thời xưa 500 người là một lữ, 2500 người là một sư, nên “sư lữ” dùng để gọi chung quân đội, hoặc chỉ việc chiến tranh.
Phương: phép tắc, đạo lý
Sẩn: cười mỉm
Lễ nhạc: nghi lễ và âm nhạc
: đợi
Xích: tên của Công Tây Hoa
Tông miếu chi sự: việc tế tự
Hội đồng: việc hội họp để kết liên minh của các nước chư hầu và cùng nhau vào triều kiến thiên tử
Đoan chương phủ: “đoan” là áo lễ, “chương phủ” là nón lễ.
Tiểu tướng: quan phụ giúp việc tế lễ
Điểm: tên của Tăng Tích
Hi: ngưng lại giữa chừng (chú giải của Chu Hi)
Khanh: tiếng bỏ đàn xuống (từ tượng thanh), có thuyết cho là tiếng còn vang khi dứt khúc nhạc.
Soạn: cách nghĩ, nộ dung
Mộ : dùng như (mộ), “mộ xuân” là cuối mùa xuân
Quán giả: người thanh niên đã qua lễ đội nón (biểu thị tuổi trường thành)
Nghi: sông Nghi, bắt nguồn ở phía đông bắc huyện Trâu tỉnh Sơn Đông ngày nay
Vũ Vu: tên một cái đàn cao để tế trời cầu mưa thời xưa, thời đó nằm bên bờ sông Nghi ở phiá nam thành của kinh đô nước Lỗ.

NGỮ PHÁP

Bất ngô tri dã: “ngô” là đại từ tân ngữ đặt trước động từ tri trong câu phủ định, không viết “bất tri ngô dã”
Như hoặc: nếu, nếu như (liên từ biểu thị giả thiết)
Hà dĩ: làm gì, lấy gì
Tị cập: đến, đến khi, đợi đến (dùng như giới từ).
Hà như: (định làm) thế nào? (cụm từ quen dùng để hỏi về ý kiến, cách làm)
Như: hoặc là, hay là (liên từ), dùng như (hoặc)

DỊCH NGHĨA

Mỗi người nói chí mình

Tử Lộ, Tăng Tích, Nhiễm Hữu và Công Tây Hoa ngồi hầu. Khổng tử nói: “Cho rằng ta có lớn hơn các anh chút ít, nhưng chớ có gò bó với ta (mà ngại không nói). Lúc bình thường các anh bảo: “Chẳng ai biết ta”. Nếu có người biết các anh thì các anh lấy tài năng gì ra dùng?”.
Tử Lộ bộp chộp trả lời: “Một nước có ngàn cỗ xe, bị ép giữa hai nước lớn, lại thêm có nạn chiến tranh, nhân đó dân chúng đói khổ; Do tôi mà cai trị nước ấy thì đến 3 năm, có thể khiến cho dân chúng dũng cảm mà lại biết đạo lý nữa”.
Phu tử (nghe xong) mỉm cười. Rồi lại hỏi: “Cầu, còn anh thì thế nào?”.
Đáp: “Một nước vuông sáu, bảy chục dặm hoặc năm sáu chục dặm, Cầu tôi cai trị nước ấy thì đến 3 năm có thể khiến cho dân chúng đưọc no đủ. Còn về lễ nhạc thì phải đợi bậc quân tử”.
– Xích, còn anh thì thế nào?
Đáp: “Không nói là đã làm được, mà chỉ mong học tập. Trong việc tế tự ở tôn miếu, hay trong hội nghị của các chư hầu, Xích tôi mặc áo lễ, đội mũ lễ, mong làm một viên quan nhỏ phụ giúp việc tế lễ”.
– Điểm, còn anh thì thế nào?
Đang gẫy đàn sắt ngắt quãng, (Tăng Tích) bỏ đàn xuống, kêu keng một tiếng rồi đứng dậy đáp: “Chí của tôi khác với cách nghĩa của ba anh đó”.
Khổng tử nói: “Có sao đâu? Cũng là ai nấy tỏ chí của mình ra mà thôi”.
(Tăng Tích) thưa: “Cuối mùa xuân, y phục mùa xuân đã may xong, năm sáu người vừa tuổi đôi mươi với sáu bảy đồng tử (dắt nhau) đi tắm ở Sông Nghi rồi lên hứng mát ở đàn Vũ Vu, vừa đi vừa hát rồi kép nhau về nhà.”
Phu tử bùi ngùi than: “Ta chia sẽ với Điểm vậy”.

Trần Văn Chánh dịch

 

ĐẠI HỌC

December 21st, 2007

ĐẠI HỌC CHI ĐẠO

【大學之道】

大學之道:在明明德,在親民,在止於至善。知止而后有定,定而后能靜,靜而后能安,安而后能慮,慮而后能得。物有本末,事有終始,知所先後,則近道矣。古之欲明明德於天下者,先治其國;欲治其國者,先齊其家;欲齊其家者,先脩其身;欲脩其身者,先正其心;欲正其心者,先誠其意;欲誠其意者,先致其知;致知在格物。物格而后知至,知至而后意誠,意誠而后心正,心正而后身脩,身脩而后家齊,家齊而后國治,國治而后天下平。

自天子以至於庶人,壹是皆以脩身為本。其本亂而末治者否矣;其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也。

PINYIN

dàxué zhī dào:zài míng míngdé,zài qīn mín,zài zhǐ yú zhìshàn。zhī zhǐ ér hòu yǒu dìng,dìng ér hòu néng jìng,jìng ér hòu néng ān,ān ér hòu néng lǜ,lǜ ér hòu néng dé。wù yǒu běn mo,shì yǒu zhōng shǐ,zhī suǒ xiān hòu,zé jìn dào yǐ。gǔ zhī yù míng míng dé yú tiān xià zhě,xiān zhì qí guó;yù zhì qí guó zhě,xiān qí qí jiā;yù qí qí jiā zhě,xiān xiū qí shēn;yù xiū qí shēn zhě,xiān zhèng qí xīn;yù zhèng qí xīn zhě,xiān chéng qí yì;yù chéng qí yì zhě,xiān zhì qí zhī;zhì zhī zài gé wù。wù gé ér hòu zhī zhì,zhī zhì ér hòu yì chéng,yì chéng ér hòu xīn zhèng,xīn zhèng ér hòu shēn xiū,shēn xiū ér hòu jiā qí,jiā qí ér hòu guó zhì,guó zhì ér hòu tiān xià píng。
zì tiān zǐ yǐzhìyú shù rén,yī shì jiē yǐ xiū shēn wèi běn。qí běn luàn ér mo zhì zhě fǒu yǐ;qí suǒ hòu zhě bó,ér qí suǒ bó zhě hòu,wèi zhī yǒu yě。 

PHIÊN ÂM

Đại học chi đạo

Đại học chi đạo :tại minh minh đức , tại thân (tân) dân , tại chỉ ư chí thiện .  Tri chỉ nhi hậu hữu định , định nhi hậu năng tĩnh , tĩnh nhi hậu năng an , an nhi hậu năng lự , lự nhi hậu năng đắc . Vật hữu bản mạt , sự hữu chung thủy , tri sở tiên hậu , tắc cận đạo hĩ .

Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả , tiên trị kì quốc ;dục trị kì quốc giả , tiên tề kì gia ;dục tề kì gia giả , tiên tu kì thân ;dục tu kì thân giả , tiên chính kì tâm ;dục chính kì tâm giả , tiên thành kì ý ;dục thành kì ý giả , tiên trí kì tri ;trí tri tại cách vật .  Vật cách nhi hậu tri chí , tri chí nhi hậu ý thành , ý thành nhi hậu tâm chính , tâm chính nhi hậu thân tu , thân tu nhi hậu gia tề , gia tề nhi hậu quốc trị , quốc trị nhi hậu thiên hạ bình .

Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân , nhất thị giai dĩ tu thân vi bản .  Kỳ bản loạn nhi mạt trị giả phủ hĩ ;kì sở hậu giả bạc , nhi kì sở bạc giả hậu , vị chi hữu dã .

Lễ ký: Đại học

Tác giả – Tác phẩm

Đại học là một trong 4 sách cơ bản trong bộ Tứ thư của Nho gia, vốn là một thiên trong Lễ ký (thiên thứ 42), tương truyền do môn đồ của Khổng Tử là Tăng Tử biên soạn.  Đến đời Tống, Trình Di (1033-1107) và Chu Hi (1130-1200) tách thiên nầy ra làm thành sác riêng cho nhập vào bộ Tứ thư.  Nội dung chủ yếu của sách được nêu rõ ở đoạn trích trên đây (cũng là đoạn đầu của sách Đại học), nhấn mạnh vào tính thống nhất không thể tách rời giữa việc tu thân và sự nghiệp trị quốc, bình thiên hạ.

DỊCH NGHĨA

Đạo đại học

Mục đích của sự học rộng cốt làm sáng cái Đức sáng của mình, cốt khiến cho người ta tự đổi mới, cốt khiến cho người ta dừng ở chỗ chí thiện.
Biết chỗ phải dừng thì sau mới có chí hướng xác định được. Có chí hướng xác định rồi sau mới có tĩnh tâm. Tĩnh tâm rồi sau tính tình mới được an hòa. Tính tình an hòa rồi sau mới suy nghĩ chín chắn. Suy nghĩ chính chắn rồi sau mới đạt được chí thiện. Vật gì cũng có gốc ngọn, việc gì cũng có đầu cuối. Biết được chỗ trước, chỗ sau của sự vật, thì tiến gần đến mục đích của sự học vậy.
Thời xưa kẻ muốn làm sáng cái đức sáng của mình trong thiên hạ, thì trước hết phải trị được nước mình. Muốn trị được nước mình, thì trước hết phải chỉnh đốn được nhà mình. Muốn tu sửa thân mình, thì trước hết phải làm cho tâm mình được ngay chính. Muốn làm cho tâm mình được ngay chính, thì trước hết phải làm cho ý được chân thật. Muốn cho ý thành thật, thì trước hết phải đưa sự hiểu biết của mình đến cực độ. Đưa sự hiểu biết đến cực độ, là cốt ở chỗ trừ bỏ sự che lấp của vật dục.
Trừ bỏ sự che lấp của vật dục, rồi sau mới đưa sự hiểu biết của mình đến cực độ. Sự hiểu biết mình có đến cực độ, rồi sau ý mình mới thành thật. Ý có thành thật, rồi sau tâm mình mới ngay chính. Tâm có ngay chính, rồi sau thân mới tu sửa. Thân có tu sửa, rồi sau nhà mới chỉnh đốn. Nhà có chỉnh đốn, rồi sau nước mới yên trị. Nước có yên trị, rồi sau thiên hạ mới thái bình.
Từ thiên tử cho đến kẻ thường dân, tất cả đều phải lấy sự tu thân làm gốc. Gốc đã loạn mà ngọn lại yên trị, thì không thể có được. Còn chỗ phải dùng sức nhiều mà lại dùng ít, chỗ phải dùng sức ít mà lại dùng nhiều, thì chưa hề có sự đó vậy.

Trần Văn Chánh dịch

TỪ NGỮ

明明德 minh minh đức: chữ “minh” đầu dùng như động từ theo phép sử động, nghĩa là (làm cho sáng). Các chữ “chính” (làm cho ngay chính), “thành” (làm cho trở nên thành thực) cũng có cách dùng tương tự.  明德 【míngdé】 illustrious virtue; highest virtue, đức sáng, minh đức

而后[-後] 【érhòu】 then; after that nhi hậu: rồi sau mới (liên từ)

以至于[–於] 【yǐzhìyú】 to such an extent as to…; so…that… dĩ chí ư: cho đến (liên từ)

nhất thị: thảy, tất cả. “nhất 壹” là dạng viêt kép của 一, dùng như phó từ.

phủ hĩ: không có điều đó vậy. “phủ” là phó từ phủ định; “” là trợ từ biểu thị khẳng định.

vị chi hữu giả: chưa hề có điều đó vậy. Trong câu phủ định, “chi” làm tân ngữ của động từ “hữu” đặt trước động từ.

至善 【zhìshàn】 acme of perfection, đỉnh cao nhất của sự hoàn mỹ, chí thiện

daihocchidao.gif

Vô dật

December 1st, 2007

KINH THƯ

《無逸》

周公曰:「嗚呼!君子所,其無逸。先知稼穡之艱難,乃逸,則知小人之依。相小人,厥父母勤勞稼穡,厥子乃不知稼穡之艱難,乃逸,乃諺既誕,否則侮厥父母,曰:『昔之人無聞知。』」

《vô dật 》

 

Chu Công viết :” Ô hô !Quân tử sở, kì vô dật. Tiên tri giá sắc chi gian nan, nãi dật, tắc tri tiểu nhân chi y. Tướng tiểu nhân, quyết phụ mẫu cần lao giá sắc, quyết tử nãi bất tri giá sắc chi gian nan, nãi dật, nãi ngạn kí đản, phủ tắc vũ quyết phụ mẫu, viết :『tích chi nhân vô văn tri』”

Thượng thư: Vô dật

Tác giả – Tác phẩm

Kinh thư hay thượng thư là một bộ sách trong hệ thống Ngũ Kinh của Nho gia, sưu tập những văn kiện chính trị, quân sự văn hóa… của Trung Quốc cổ đại, trong khoảng thời gian từ thời Nghiêu Thuấn cho tới Tây Chu, tương truyền cũng có qua tay san định của Khổng Tử, ban đầu có tới 100 thiên, nay chỉ còn 30 thiên.  Đoạn trên đây trích từ thiên “Vô dật”, là lời của Chu Công khuyên vua Thành Vương, đại ý nói kẻ làm vua trị dân phải biết nghĩ tới nỗi khổ và lo cho đời sống của dân, không được ham sự an nhàn và hưởng thụ.

DỊCH NGHĨA:

Chớ có nhàn rỗi
 
Chu Công nói: ” Nơi người quân tử ở là chớ có rỗi! Biết trước cái khó khăn của sự gieo cấy rồi mới nhàn rỗi thì biết nơi nương tựa của dân hèn.  Xem bọn dân hèn: cha mẹ nó siêng chăm gieo cấy.  Con nó lại không biết trước cái khó nhọc của gieo cấy rồi mới nhàn rỗi nên nói xổng, nói càn, không thì khi cha mẹ nó, nói rằng: ‘Người hồi trước chẳng nghe, biết gì cả! ‘ ”
 
Nhượng Tống dịch
Thượng thư, NXB Tân Việt 1963

TỪ NGỮ

其無 (kỳ) là phó từ biểu thị khuyến lệnh: (kỳ vô dật!)
乃 (nãi): mới, rồi mới (liên từ)
依 (y) trong bài là động từ được dùng như danh từ thông (qua hiệu quả của trợ từ kết cấu 之)
厥 (quyết) (đại từ) Của nó, kia, mình, dùng như chữ 其 làm định ngữ: 厥父母 = 其父母, 厥子 = 其子
否则[-則] fǒuzé conj. otherwise; if not; or else (phủ tắc): nếu không thì.