Archive for the tag 'nhân nghĩa'



Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp

January 11th, 2008

齊人有一妻一妾

《孟子》
齊人有一妻一妾而處室者。其良人出,則必饜酒肉而後反。其妻問所與飲食者,則盡富貴也。其妻告其妾曰:良人出,則必饜酒肉而後反,問其與飲食者,盡富貴也。而未嘗有顯者來。吾將瞷良人之所之也。蚤起,施從良人之所之,遍國中無與立談者,卒之東郭墦間之祭者,乞其馀,不足,又顧而之他:此其為饜足之道也。其妻歸,告其妾曰:良人者,所仰望而終身也。今若此!與其妾訕其良人,而相泣於中庭。而良人未之知也,施施從外來,驕其妻妾。由君子觀之,則人之所以求富貴利達者,其妻妾不羞也而不相泣者,幾希矣!

PHIÊN ÂM

Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp

《Mạnh tử: Ly Lâu hạ 》

Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp nhi xử thất giả . Kì lương nhân xuất ,tắc tất yếm tửu nhục nhi hậu phản . Kì thê vấn sở dữ ẩm thực giả ,tắc tận phú quý dã . Kì thê cáo kì thiếp viết :”Lương nhân xuất ,tắc tất yếm tửu nhục nhi hậu phản ,vấn kì dữ ẩm thực giả ,tận phú quý dã . Nhi vị thường hữu hiển giả lai . Ngô tương gián lương nhân chi sở chi dã .”. Tảo khởi ,thi tòng lương nhân chi sở chi ,biến quốc trung vô dữ lập đàm giả ,tốt chi đông quách phiền gian chi tế giả ,khất kì dư ,bất túc ,hựu cố nhi chi tha :thử kì vi yếm túc chi đạo dã . Kì thê quy ,cáo kì thiếp viết :”Lương nhân giả ,sở ngưỡng vọng nhi chung thân dã , kim nhược thử !”. Dữ kì thiếp sán kì lương nhân ,nhi tương khấp ư trung đình . Nhi lương nhân vị chi tri dã ,thi thi tòng ngoại lai ,kiêu kì thê thiếp . Do quân tử quan chi ,tắc nhân chi sở dĩ cầu phú quý lợi đạt giả ,kì thê thiếp bất tu dã nhi bất tương khấp giả ,cơ hi hĩ !

Tác giả – Tác phẩm

Mạnh tử là một sách trong bộ Tứ thư, ghi chép học thuyết, lý luận của Mạnh Tử (tên thật là Kha, 372-289 trước CN), một đại nho gia có tầm ảnh hưởng chỉ đứng sau Khổng tử, qua nhiều cuộc tranh luận của ông với vua chúa và một số trí thức đương thời. Mạnh tử chủ trương tuyết tính thiện, đề xướng nhân nghĩa, phản đối thói vụ lợi và chiến tranh xâm lược, đề cao tinh thần dân chủ (qua câu nói: dân là quý nhất, rồi đến quốc gia, còn vua thì nhẹ). Về phương diện văn chương, có lẽ Mạnh tử là sách có giá trị nhất trong bộ Tứ thư, với lời văn hùng hồn, thâm thiết, dùng nhiều thí dụ dễ hiểu mà thú vị, lý luận chặt chẽ, đanh thép. Sách gồm y thiên (mỗi thiên đều chia làm thượng, hạ), đến đời Tống được Chu Hi chú giải và xếp vào bộ Tứ thư của Nho gia. Bài trên đây trích ở đoạn cuối thiên “Ly Lâu hạ“, chương thứ 33, là một chuyện ngụ ngôn thâm trầm sâu sắc, phê phán con đường tiến thân không biết tự trọng mà đầy cực nhục của người ta ở đời.

TỪ NGỮ

Tề nhân: người nước Tề
Thiếp: vợ lẽ
Lương nhân: từ người phụ nữ gọi chồng
Yếm: no nê
Hiển giả: người vinh hiển, người sang trọng
Gián: dò xem, rình xem
Chi: đi (động từ)
Tảo: sáng sớm (dùng như 早)
Thí: đi xiêu, đi ngoẹo, đi tắt (dùng như dĩ 逸)
Quốc: đây chỉ thành
Tốt: cuối cùng, sau cùng
Quách: tường xây quanh thành, thành ngoài
Phiền: phần mộ, mồ mả
Khất: xin ăn
Tha: nơi khác (đại từ chỉ thị)
Ngưỡng vọng: trông chờ
Chung thân: suốt đời
Sán: chê trách, kể xấu
Trung đình: trong sân, giữa sân (trước thềm nhà)
Thi thi: hớn hở
Kiêu: kiêu căng, lên mặt
Hi: ít

NGỮ PHÁP

Tương 相: cùng nhau (phó từ)
Nhược thử: như thế (cụm từ quen dùng)
: cơ hồ, hầu như

DỊCH NGHĨA

Người nước Tề có kẻ có một vợ cả một vợ lẽ mà cùng ở một nhà, người chồng đi ra ngoài thì tất say no rượu thịt rồi mới về. Vợ cả hỏi chồng cùng với những người nào ăn uống thì nói rằng hết thảy là những người phú quý cả. Người vợ cả đem lòng ngờ mà bảo riêng với vợ lẽ rằng: “Chồng ta đi ra ngoài, thì tất say no rượu thịt rồi mới về, hỏi cùng với những người nào ăn uống thì nói rằng hết thảy là những người phú quý, mà chửa từng có kẻ hiển giả nào lại chơi, ta sắp sửa đi dòm chồng ta đi những đâu”.
Người vợ lẽ trở dậy sớm, đi quanh theo hút người chồng đi những đâu, thì khắp trong nước không người nào cùng đứng nói chuyện với; cuối cùng thấy đi ra mé thành bên đông chỗ mả người ta cúng tế, xin lấy đồ cúng thừa mà ăn, chẳng đủ thì lại đoái mà đi ra nơi khác, ấy cái đạo say no chán đủ của anh chồng như thế đấy.
Người vợ cả về bảo người vợ lẽ rằng: “Chồng ta ấy, chúng ta còn phải trông nhờ vào suốt đời, mà nay như thế còn ngưỡng vọng nỗi gì!”. Rồi cùng với người vợ lẽ oán mỉa người chồng, cùng khóc với nhau ở trong sân. Mà người chồng chửa biết rằng sự mình đã bại lộ ra, còn hớn hở tự ngoài đi vào kiêu căng với hai bà vợ.
Cứ như người quân tử xem ra thì những người đi cầu phú quý lợi đạt kia mà vợ cả vợ bé người ấy lại chẳng xấu hổ mà chẳng khóc lóc với nhau ấy, ngõ hầu cũng ít lắm vậy.

Nguyễn Hữu TiếnNguyễn Đôn Phục dịch

THIÊN THƯỢNG 19

December 16th, 2007

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG MƯỜI CHÍN

絕聖棄智,民利百倍﹔絕仁棄義,民復孝慈﹔絕巧棄利,盜賊無有。此三者以為文,不足。故令有所屬:見素抱朴,少思寡欲。

PINYIN

jué shèng qì zhì,mín lì bǎibèi﹔jué rén qì yì,mín fù xiào cí﹔jué qiǎo qì lì,dàozéi wú yǒu。cǐ sān zhě yǐ wèi wén,bùzú。gù lìng yǒu suǒshǔ:jiàn sù bào po,shǎo sī guǎ yù。

PHIÊN ÂM

Tuyệt thánh khí trí , dân lợi bách bội ﹔tuyệt nhân khí nghĩa , dân phục hiếu từ ﹔tuyệt xảo khí lợi , đạo tặc vô hữu .  Thử tam giả dĩ vi văn , bất túc , cố linh hữu sở thuộc :kiến tố bão phác , thiểu tư quả dục  .

ANH NGỮ

Get rid of “holiness” …
Get rid of “holiness” and abandon “wisdom” and the people will benefit a hundredfold.
Get rid of “humaneness” and abandon “rightness” and the people will return to filial piety and compassion.
Get rid of cleverness and abandon profit, and thieves and gangsters will not exist.
Since the above three are merely words, they are not sufficient.
Therefore there must be something to include them all.
See the origin and keep the non-differentiated state.
Lessen selfishness and decrease desire.

Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

Dứt thánh (thánh hiểu theo quan niệm Khổng, Mặc) bỏ trí, dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt (trí) xảo bỏ lợi, không có trộm giặc.

Ba cái đó (thánh trí, nhân nghĩa, xảo lợi) vì là cái văn vẻ (trang sức bề ngoài) không đủ (để trị dân) cho nên (phải bỏ mà) khiến cho dân qui (hoặc chuyên chú) về điều này: ngoài thì biểu hiện sự mộc mạc (tố), trong thì giữ sự chất phác (phác), giảm tư tâm (tư), bớt dục vọng (dục).

LỜI BÀN

 

Trong câu nhì, chữ văn trái với chữ phác.  Bỏ ba cái “văn” đó mới chỉ là tiêu cực; phải mộc mạc, chất phác, giảm tư tâm, bớt dục mới là tích cực.

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

TỪ NGỮ

棄[弃] 【qì】discard; abandon,khí, bỏ

復(S复) 【fù】 again, turn around, phục, khôi phục, trở lại

百倍 【bǎibèi】hundredfold; a hundred times,trăm lần, bách bội.

絕(S绝) 【jué】 cut off; absolute,dứt tuyệt

不足 【bùzú】 not be enough,không đủ

所属[-屬] 【suǒshǔ】 what/who is under one’s command,sở thuộc

此三者以為文 [nghĩ về ba cái đó (thánh trí, nhân nghĩa, xảo lợi)]

[Hoa Sơn bổ sung phần từ ngữ]