Archive for the tag 'liou kia hway'



TIÊU DAO DU [5]

January 1st, 2008

CHƯƠNG MỘT

THẢNH THƠI TỰ TẠI

【逍遙遊第一】  

惠子謂莊子曰:「吾有大樹,人謂之樗。其大本臃腫而不中繩墨,其小枝卷曲而不中規矩。立之塗,匠者不顧。今子之言,大而無用,眾所同去也。」莊子曰:「子獨不見狸狌乎?卑身而伏,以候敖者;東西跳梁,不避高下;中於機辟,死於罔罟。今夫斄牛,其大若垂天之雲。此能為大矣,而不能執鼠。今子有大樹,患其無用,何不樹之於無何有之鄉,廣莫之野,彷徨乎無為其側,逍遙乎寢臥其下。不夭斤斧,物無害者,無所可用,安所困苦哉!」。

PHIÊN ÂM

Huệ tử vị Trang tử viết :「ngô hữu đại thụ ,nhân vị chi xư ,kì đại bổn ủng thũng nhi bất trung thằng mặc ,kì tiểu chi quyển khúc nhi bất trung quy củ . Lập chi đồ ,tượng giả bất cố . Kim tử chi ngôn ,đại nhi vô dụng ,chúng sở đồng khứ dã .」
Trang tử viết :「tử độc bất kiến li tinh hồ ? ti thân nhi phục ,dĩ hậu ngao giả ,đông tây khiêu lương ,bất tị cao hạ ,trúng ư cơ tịch ,tử ư võng cổ . Kim phu thai ngưu ,kì đại nhược thuỳ thiên chi vân ,thử năng vi đại hĩ ,nhi bất năng chấp thử . Kim tử hữu đại thụ ,hoạn kì vô dụng ,hà bất thụ chi ư kí hà hữu chi hương 、quảng mạc chi dã ,bàng hoàng hồ vô vi kì trắc ,tiêu dao hồ tẩm ngoạ kì hạ ;bất yểu cân phủ ,vật vô hại giả ,vô sở khả dụng ,an sở khốn khổ tai !」

DỊCH NGHĨA

Huệ tử bảo Trang tử:
– Có một cây lớn gọi là cây xư (1). Thân nó nổi u, chỗ lồi chỗ lõm, không dùng dây mực của thợ mộc mà vạch đường được; cành nhỏ của nó cong queo không dùng cái qui (2) và thước vuông để xẻ được. Nó mọc ở ngay bên đường mà không một người thợ mộc nào thèm ngó tới. Thuyết của ông cũng vậy, rộng lớn mà không dùng được, nên không ai theo.
Trang tử đáp:
– Ông có thấy con li tinh (3) không? Nó nép mình để rình mồi, nó nhảy qua đông qua tây, chẳng kể cao thấp, nhưng có ngày nó cũng chết vì bẫy, vì lưới. Còn con thai ngưu (4) thân lớn như đám mây trên trời mà không bắt nổi một con chuột. Ông có một cây lớn mà lo rằng nó vô dụng. Sao không trồng nó ở chỗ hư vô tịch mịch, trong cánh đồng mênh mông, để những kẻ nhàn rỗi thơ thẩn dạo chung quanh thảnh thơi ngủ dưới bóng mát của nó? Nó không sợ bị búa rều đốn, hoặc bị ngoại vật làm hại. Nó không dùng được vào việc gì, thì tai họa làm sao mà đến ? (5)

Nguyễn Hiến Lê dịch

CHÚ THÍCH

(1) Một thứ cây lớn mà gỗ xấu, không dùng được.
(2) Cái compa
(3) Có sách cho là hai con vật: con mèo rừng và con chồn (hoặc con chó sói); Liou Kia hway dịch là con belette, một loài cầy.
(4) Liou Kia hway dịch là con yack, một loại trâu ở Trung Á.
(5) Vương Phu Chi, Diệp Ngọc Lân và Hoàng Cẩm Hoành đều hiểu như vậy, riêng Liou Kia hway dịch là: thì sao lại làm cho ông lo nghĩ? (nguyên văn: an sở khốn khổ tai?)

NHẬN ĐỊNH

Lão tử và Trang tử là hai triết gia làm tốn giấy mực cho đời sau nhiều nhất: mỗi nhà ít gì cũng được cả trăm người khác chú giải. Một phần là vì triết thuyết của họ rất sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới tư tưởng và đời sống Trung Hoa. Nhưng nguyên nhân chính là văn của họ cô đọng quá, hàm súc quá, có thể hiểu được nhiều cách, nhiều chỗ không ai biết chắc được họ muốn nói gì, đành phải suy đoán. Hai bộ Đạo Đức Kinh và Trang tử Nam Hoa Kinh so với hai bộ Luận ngữ và Mạnh tử về phương diện sáng sủa thực khác nhau xa quá: một bên mù mờ bao nhiêu, một bên sáng sủa bấy nhiêu.
Tóm tắt ý chính trong chương Tiêu Dao Du, Diệp Ngọc Lân dẫn lời của Vương Tiên Khiêm (tức Vương Ích Ngô, một triết gia đời Thanh), cho “tiêu dao tự tại là siêu thoát ra ngoài thế vật, theo lý thiên nhên”. Ý đó giống ý của Quách Tượng (học giả đời Tấn, tự là Tử Huyền, cùng với Hướng Tú là những người đầu tiên chú giải Trang tử) trong câu này: “Vật tuy lớn nhỏ khác nhau (…) nhưng mỗi loài cứ theo thiên tính của mình, làm theo khả năng của mình…” thì là tiêu dao. “Theo lý tự nhiên” hay “theo thiên tính” thì cũng vậy.
Nhưng theo Hoàng Cẩm Hoành lại bác ý của Quách Tượng, cho tiêu dao là “vô vi”, vì Hoàng căn cứ vào câu “Bậc chí nhân thì quên mình, bậc thần nhân thì không lập công, bậc thánh nhân thì không lưu danh” ở cuối bài một. (Chí nhân vô kỉ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh).
Vương phu chi (tức Vương Thuyền Sơn, một triết gia danh tiếng đời nhà Thanh) cũng cho rằng phải theo thiên tính của mình (như con chim cưu chỉ bay lên ngọn cây, có khi còn không tới, mà không vì vậy ganh tị với con chim bằng, bay cao được tới chín vạn dặm), nhưng lại chú trọng tới điều kiện này là không phải tùy thuộc cái gì (vô sở đãi) thì mới thực thảnh thơi. Con chim bằng phải tùy thuộc lớp không khí dầy ở dưới nó; Liệt tử cưỡi gió mà bay thật nhẹ nhàng, khoan khoái, nhưng vẫn phải tùy gió nổi lên mới bay được, như vậy chưa thực là tiêu dao. Hễ còn tùy thuộc một cái gì thì chưa được hoàn toàn tự do, làm sao mà thảnh thơi được? Liou Kia hway chắc cũng nghĩ như Vương Phu Chi nên dịch “Tiêu dao du” là “liberté naturelle” (sự tự do thiên nhiên).
Như vậy chúng ta đã có ba điều kiện của sự tiêu dao tự tại rồi.
– Phải thuận thiên tính.
– Không tuỳ thuộc một cái gì (phải được hoàn toàn tự do).
– Vô vi (không lập công, không cầu danh, quên mình đi, tức siêu thoát ra ngoài thế vật để khỏi tuỳ thuộc thế vật); như Hứa Do trong bài 2 là đã tiêu dao; vua Nghiêu trong bài đó chưa tiêu dao, nhưng trong bài 3, khi ở núi Cô Dạ về, chịu ảnh hưởng của bốn vị thần nhân mà quên mất thiên hạ của mình, lúc đó mới được tiêu dao. Quan niệm vô vi này Trang đã mượn của Lão mà còn tiến xa hơn Lão nữa. Theo tôi còn thêm một điều kiện nữa.
– Muốn được tuyệt đối tiêu dao thì phải hoà đồng với vạn vật, như các thần nhân trên núi Cô Dạ (bài 3), lúc đó sẽ chế ngự được lục khí để ngao du trong vũ trụ vô biên (bài 1), nước lửa đều không làm hại mình được (bài 3). Tôi ngờ rằng Trang tử ở đây đã chịu ảnh hưởng của Liệt tử.
Bốn điều kiện kể trên là ý chính trong chương này. Ngoài ra còn vài ý phụ nữa như là “vô tài thì toàn mệnh được, như cây xư (bài 5), “tiểu trí không hiểu được đại trí, như con ve sầu, con chim cưu, con cút cười con chim bằng (bài 1)”, “khéo dùng vật thì không vật nào là vô dụng (bài 4,5); mà chỉ hạng đại trí mới biết dùng những vật tầm thường vào những việc lớn (bài 4).

Nguyễn Hiến Lê

Xem {{post id=”tieu-dao-du-1″ text=”TIÊU DAO DU [1]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-2″ text=”TIÊU DAO DU [2]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-3″ text=”TIÊU DAO DU [3]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-4″ text=”TIÊU DAO DU [4]”}}

>>——————————————-

Trang Tử Nam Hoa Kinh
Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản văn hoá

Về việc xuất bản sách Nguyễn Hiến Lê

Nhà văn quá cố Nguyễn Hiến Lê có trên một trăm tác phẩm đã đăng ký tại Hãng Bảo hộ tác quyền Tác giả Việt Nam thuộc bộ Văn Hoá số 189/VH/HBH ngày 16-12-1988.
Nhà xuất bản nào muốn in sách Nguyễn Hiến Lê xin tiếp xúc để thương lượng với ông Lê Ngộ Châu và ông Nguyễn Q. Thắng là những người được ủy nhiệm hợp pháp, đại diện cho gia đình nhà văn Nguyễn Hiến Lê.

Điạ chỉ:
160 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3
256/20/42 CMT8, P.5, Q. Tân Bình – TP HCM

>>——————————————–

Cuốn sách Trang tử Nam Hoa Kinh của Nguyễn Hiến Lê chỉ có phần dịch nghĩa, còn phần nguyên văn chữ Hán và Hán Việt do Hoa Sơn bổ sung . Các bậc nho học nếu thấy có gì sai sót về nguyên tác hoặc Hán Việt thì xin vui lòng chỉ bảo cho.
Xin đa tạ

Hoa Sơn

TIÊU DAO DU [4]

January 1st, 2008

CHƯƠNG MỘT

THẢNH THƠI TỰ TẠI

【逍遙遊第一】  

惠子謂莊子曰:「魏王貽我大瓠之種,我樹之成而實五石。以盛水漿,其堅不能自舉也。剖之以為瓢,則瓠落無所容。非不呺然大也,吾為其無用而掊之。」莊子曰:「夫子固拙於用大矣。宋人有善為不龜手之藥者,世世以洴澼絖為事。客聞之,請買其方百金。聚族而謀曰:『我世世為洴澼絖,不過數金;今一朝而鬻技百金,請與之。』客得之,以說吳王。越有難,吳王使之將。冬,與越人水戰,大敗越人,裂地而封之。能不龜手,一也;或以封,或不免於洴澼絖,則所用之異也。今子有五石之瓠,何不慮以為大樽而浮乎江湖,而憂其瓠落無所容?則夫子猶有蓬之心也夫!」。

PHIÊN ÂM

Huệ tử vị trang tử viết :「Ngụy vương di ngã dĩ đại hồ chi chủng ,ngã thụ chi thành nhi thật ngũ thạch . Dĩ thạnh thuỷ tương ,kì kiên bất năng tự cử dã . Phẫu chi dĩ vi biều ,tắc hồ lạc vô sở dung . Phi bất hiêu nhiên đại dã ,ngô vi kì vô dụng nhi bẫu chi .」
Trang tử viết :「phu tử cố chuyết ư dụng đại hĩ ,Tống nhân hữu thiện vi bất quy thủ chi dược giả ,thế thế dĩ bình phích khoáng vi sự . Khách văn chi ,thỉnh mãi kì phương bách kim . Tụ tộc nhi mưu viết :『ngã thế thế vi bình phích khoáng ,bất quá sổ kim ;kim nhất triêu nhi chúc kĩ bách kim ,thỉnh dữ chi .』Khách đắc chi ,dĩ thuyết Ngô vương . Việt hữu nạn ,Ngô vương sử chi tướng ,đông, dữ Việt nhân thuỷ chiến ,đại bại Việt nhân ,liệt địa nhi phong chi . Năng bất quy thủ ,nhất dã ;hoặc dĩ phong ,hoặc bất miễn ư bình phích khoáng ,tắc sở dụng chi dị dã . Kim tử hữu ngũ thạch chi hồ ,hà bất lự dĩ vi đại tôn nhi phù hồ giang hồ ,nhi ưu kì hồ lạc vô sở dung. Kim tử hữu ngũ thạch chi hồ, hà bất lự dĩ vi đại tôn nhi phù hồ lạc vô sở dung? tắc phu tử do hữu bồng chi tâm dã phu !」

DỊCH NGHĨA

Huệ tử bảo Trang tử:
– Vua Ngụy cho tôi một hột giống bầu lớn, tôi đem trồng được những trái chứa được năm thạch (1). Dùng cả một trái để chứa nước thì nó không đủ cứng để chịu được, khiêng đi sẽ bể; nếu xẻ nó thành nhiều phần thì lại nông quá, không chứa được bao nhiêu. Thành thử tuy nó lớn mà vô dụng, cho nên tôi đã đập bỏ.
Trang tử bảo:
– Vậy là ông vụng sử dụng những vật lớn rồi. Một người nước Tống chế được một thứ thuốc bôi ngón tay cho khỏi nứt nẻ. Gia đình người đó đời đời làm công việc đập lụa. Một người lạ hay tin, lại trả một trăm đồng tiền vàng để mua phương thuốc. Người đó họp cả họ lại, bảo: “Chúng ta đời đời đập lụa, chỉ kiếm được vài đồng tiền vàng. Bây giờ chỉ trong một buổi có thể thu được một trăm đồng. Nên bán cho họ đi”. Người lạ kia được phương thuốc rồi, lại thuyết vua Ngô. Lúc đó nước Việt đang gây chiến với Ngô, vua Ngô bèn phong người đó làm tướng. Mùa đông, hai bên thủy chiến với nhau, Việt đại bại (2) phải cắt đứt cho Ngô, vua Ngô đem đất đó phong cho ông ta.
Cùng dùng một thứ thuốc mà người thì được phong đất, kẻ vẫn phải đập lụa, chỉ vì cách dùng khác nhau. Nay ông có trái bầu chứa được năm thạch, sao không nghĩ cách dùng nó làm một trái nổi để qua sông, hở? Phàn nàn rằng xẻ ra thì nó nông quá, không chứa gì được, chính là vì lòng của ông không thông đạt (3) đấy

Nguyễn Hiến Lê dịch

CHÚ THÍCH

(1) Một thạch bằng một trăm thưng, khoảng mười đấu.
(2) Vì thủy quân Việt không có thuốc đó, tay nứt nẻ cả, không chiến đấu được.
(3) Nguyên văn hữu bồng chi tâm. Liou Kia Hway dịch là esprit léger, nhẹ dạ, không biết suy tính.

Xem {{post id=”tieu-dao-du-1″ text=”TIÊU DAO DU [1]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-2″ text=”TIÊU DAO DU [2]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-3″ text=”TIÊU DAO DU [3]”}}

TIÊU DAO DU [2]

December 31st, 2007

CHƯƠNG MỘT

THẢNH THƠI TỰ TẠI

【逍遙遊第一】  

堯讓天下於許由,曰:「日月出矣而爝火不息,其於光也,不亦難乎!時雨降矣而猶浸灌,其於澤也,不亦勞乎!夫子立而天下治,而我猶尸之,吾自視缺然。請致天下。」許由曰:「子治天下,天下既已治也。而我猶代子,吾將為名乎?名者,實之賓也,吾將為賓乎?鷦鷯巢於深林,不過一枝;偃鼠飲河,不過滿腹。歸休乎君,予無所用天下為!庖人雖不治庖,尸祝不越樽俎而代之矣。」

PHIÊN ÂM

Nghiêu nhượng thiên hạ ư Hứa Do ,viết :「Nhật nguyệt xuất hĩ ,nhi tước hoả bất tức ,kì ư quang dã ,bất diệc nan hồ !thời vũ giáng hĩ ,nhi do tẩm quán ,kì ư trạch dã ,bất diệc lao hồ !phu tử lập nhi thiên hạ trị ,nhi ngã do (du) thi chi ,ngô tự thị khuyết nhiên ,thỉnh trí thiên hạ .」
Hứa Do viết :「Tử trị thiên hạ ,thiên hạ kí dĩ trị dã ,nhi ngã do (du) đại tử ,ngô tương vi danh hồ ? Danh giả ,thật chi tân dã ,ngô tương vi tân hồ ? Tiêu liêu sào ư thâm lâm ,bất quá nhất chi ;yển thử ẩm hà ,bất quá mãn phúc . Quy hưu hồ quân !Dư vô sở dụng thiên hạ vi . Bào nhân tuy bất trị bào ,thi chúc bất việt tôn trở nhi đại chi hĩ .」

DỊCH NGHĨA

Vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho Hứa Do (1), bảo:
– Mặt trời, mặt trăng đã xuất hiện, đuốc làm sao còn sáng được nữa mà không tắt đi? Mưa đã đổ mà còn tưới ruộng làm gì cho phí sức? Phu tử (2) mà lên ngôi thì nước sẽ trị; tôi còn giữ hư vị này (như người đại diện cho người chết trong tang lễ), tự lấy làm xấu hổ. tôi xin giao thiên hạ cho phu tử.
Hứa Do đáp:
– Nhà vua trị nước, mà nước được bình trị. Bây giờ tôi lên thay, thế là cầu danh ư? Danh là khách của cái thực (3), tôi đóng cái vai khách sao? Con chim tiêu lieu (một loài chim nhỏ) , làm tổ trong rừng, chiếm bất quá một cành cây; con “yển thử” (4) uống nước sông, bất quá đầy bụng thì thôi. Xin nhà vua cứ giữ ngôi. Tôi có biết dùng thiên hạ làm gì đâu. Nếu người bếp mà không biết nấu ngướng thì người đại diện cho người chết (5) và người chủ tế cũng không bỏ chức vụ của mình mà thay người bếp được.

Nguyễn Hiến Lê dịch

CHÚ THÍCH

(1) Hứa Do: là một ẩn sĩ thời cổ, tự là Vũ Trọng, tương truyền vua Nghiêu nhường ngôi cho ông, ông không nhận, trốn vào núi ở.
(2) Vua Nghiêu trọng Hứa Do như bậc thầy mình nên gọi là “phu tử”
(3) Nghĩa là danh chỉ là “hư”
(4) Yến có nghĩa là tiềm phục, nép. Có sách bảo yển thử là một con vật hình giống con bò; Liou Kia Hway dịch là con tapir (con mạch).
(5) Nguyên văn là “thi”, người đại diện người chết trong tang lễ để con cái khi tế thấy như cha mẹ còn ngồi đó; do đó mà sau trỏ cái thây.

Xem {{post id=”tieu-dao-du-1″ text=”TIÊU DAO DU [1]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-3″ text=”TIÊU DAO DU [3]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-4″ text=”TIÊU DAO DU [4]”}}

THIÊN THƯỢNG 5

December 8th, 2007

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG NĂM

天地不仁,以萬物為芻狗﹔聖人不仁,以百姓為芻狗。天地之間,其猶橐龠乎?虛而不屈,動而愈出。多數窮,不如守中

PINYIN

tiāndì bùrén,yǐ wànwù wèi chú gǒu﹔shèngrén bùrén,yǐ bǎixìng wèi chú gǒu。tiāndì zhījiān,qí yóu tuo yuè hū?xū ér bù qū,dòng ér yù chū。duō yán shù qióng,bùrú shǒu zhōng。

PHIÊN ÂM

Thiên địa bất nhân , dĩ vạn vật vi sô cẩu ﹔thánh nhân bất nhân , dĩ bách tính vi sô cẩu .  Thiên địa chi gian , kì do thác thược hồ ? Hư nhi bất khuất , động nhi dũ xuất .  Đa ngôn sác (sổ) cùng , bất như thủ trung .

ANH NGỮ

Heaven and Earth are not humane…
Heaven and Earth are not humane,
And regard the people as straw dogs.
The sage is not humane,
And regards all things as straw dogs.
The space between Heaven and Earth is just like a bellows:
Empty it, it is not exhausted.
Squeeze it and more comes out.
Investigating it with a lot of talk
Is not like holding to the center.

Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm.

Khoảng giữa trời đất như ống bễ, hư không mà không kiệt, càng chuyển động, hơi lại càng ra.  Càng nói nhiều lại càng khốn cùng, không bằng giữ sự hư tĩnh.

LỜI BÀN

laozi

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

Trời đất, tức luật thiên nhiên, không có tình thương của con người (bất nhân) không tư vị với vật nào, cứ thản nhiên đối với vạn vật, lẽ đó dễ hiểu mà loài người thời nào và ở đâu cũng thường trách tạo hóa như vậy.  Những câu: ưu thắng liệt bại, cạnh tranh để sinh tồn, tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi, có sinh thì có tử… đều diễn ý cái ý “thiên địa bất nhân”.  Đang thời thì dùng, quá thời thì bỏ như cây cối xuân hạ tươi tốt, khi trổ hoa kết trái rồi qua thu đông thì điêu tàn.  Cho nên Lão tử bảo trời đất coi vạn vật như chó rơm.  Những con chó kết bằng rơm khi chưa bầy để cúng thì được cất kỹ trong rương hoặc giỏ, bao bằng gấm vóc, khi cúng xong rồi thì người ta liệng nó ra đường, người đi đường lượm về để nhóm lửa (Trang Tử – thiên Thiên vận)

Câu đầu, nửa trên ai cũng hiểu như vậy; nửa sau thì ý kiến bất đồng.  Đa số cho “bách tính” là dân chúng.  Wieger (do Jean Grenier dẫn – tr.79) cho bách tính là trăm quan: quan nào có ích cho nước thì dùng, vô ích hoặc có hại thì trừ đi, vì vua chúa chỉ nên “yêu quốc gia thôi, chứ không được yêu cá nhân” cũng như trời đất sinh ra vạn vật chỉ cho cái lợi chung của vạn vật chứ không quan tâm đến cái lợi riêng của một vật nào.

Theo Nguyễn Hiến Lê thì Lão Tử chỉ muốn khuyên ta trị dân thì cứ theo đạo, theo tự nhiên, mà để cho dân tự nhiên phát triển theo thiên tính, đừng can thiệp vào.

Câu sau Lão Tử so sánh khoảng trời đất với cái ống bễ.  Rất đúng và tài tình.  Cả hai đều hư không mà không cùng kiệt (có nhà dịch “bất khuất” là không bẹp xuống: ý cũng vậy), mà cả hai càng động thì hơi gió càng phát ra nhiều.  Cái dụng của cái hư không (vô) như vậy đó.

Câu cuối thì Liou Kia-hway hiểu khác hẳn: càng nói nhiều về đạo thì càng không hiểu nó, nó bằng nhập vào đạo.  Nhà khác lại dịch là: Nói nhiêu cũng không sao  hết được, không bằng giữ mực trung.

Lê Hòa Phong diễn giải [trích nghiệm giải Đạo Đức Kinh – NXB Đồng Nai 2011]

Trời đất không theo ý muốn của mọi loài, (luyến mạng sống) khi cần cho sự tiến hóa phải dùng đến sự chết, bị cho là bất nhân, còn thánh nhân ,có khi do muốn tranh giành vật báu mà buộc người phải bán mạng để cho thỏa nguyện cũng bị cho là bất nhân, nhưng mục đích của hai việc hoàn toàn khác nhau, ta thấy có hai lối sống: sống để xây dựng và sống để hại đời, các vị vua quan ngày xưa muốn xây dựng đời như vua Nghiêu, Thuấn, Thần Nông biết chọn người để nhường ngôi, biết dạy dân trồng trọt, chăn nuôi là họ xây đời. Trái lại như Kiệt, Trụ  và những kẻ lạm dụng quyền thế mà chiếm đoạt tài vật của người khác là những kẻ hại đời vậy. Còn khoảng trống giữa trời và đất là không khí. Lão Tử mượn cái óng bể để miêu tả sự cần thiết lắm trong cuộc sống của vạn vật,nó luôn hiển hiện và bao quanh để cung cấp sự sống cho chúng ta thế mà chỉ vì lợi ích cá nhân mà ta đang làm ô nhiễm nó. Vậy chúng ta có bất nhân không ? . Ta thấy có một số thánh nhân đã  lợi dụng sinh mạng và tài sản của nhiều người để phục vụ cho tham vọng của họ, đã mấy ngàn năm qua mà hầu như người đời vẫn không thấy xót xa và hiện nay đang có nhiều người cố kéo dài nhiệm kỳ đến mười mấy – hai mươi năm để củng cố quyền lực,địa vị và tài sản .Họ có phải là thánh nhân bất nhân không ?.

Lão phật quả có chổ tương đồng, ly ngôn tuyệt tướng thì trở về bản thể, giống như sự im lặng của ngài Duy Ma Cật và cái mĩm cười của ngài Ca Diếp.

THIÊN THƯỢNG 4

December 8th, 2007

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG BỐN

道沖,而用之或不盈。淵兮,似萬物之宗。挫其銳,解其紛,和其光,同其塵。湛兮,似或存。吾不知誰之子,象帝之先

PINYIN

dào chōng,ér yòng zhī huo bù yíng。yuān xī,sì wànwù zhī zōng。 qí ruì,jiě qí fēn,hé qí guāng,tóng qí chén。zhàn xī,sì huo cún。wú bù zhī shuí zhī zǐ , xiàng dì zhī xiān。

PHIÊN ÂM

Đạo xung , nhi dụng chi hoặc bất doanh , uyên hề tự vạn vật chi tôn .  Toả kì nhuệ , giải kì phân , hoà kì quang , đồng kì trần ; trạm hề tự hoặc tồn .  Ngô bất tri thuỳ chi tử , tượng đế chi tiên.

ANH NGỮ

The Way is so vast…
The Way is so vast that when you use it, something is always left.
How deep it is!
It seems to be the ancestor of the myriad things.
It blunts sharpness
Untangles knots
Softens the glare
Unifies with the mundane.
It is so full!
It seems to have remainder.
It is the child of I-don’t-know-who.
And prior to the primeval Lord-on-high.

Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

Đạo, bản thể thì hư không mà tác dụng thì cơ hồ vô cùng,  nó uyên áo mà tựa  như làm chủ tể vạn vật.

Nó không để lộ tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánnh sáng, hòa đồng với trần tục; nó sâu kín [không hiện] mà dường như trường tồn.

Ta không biết nó là ai; có lẽ nó có trước thượng đế.

LỜI BÀN

laozi

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

Chương này Liou Kia-hway cho rằng chữ nhuệ tượng trưng sự trác tuyệt, siêu phàm, chữ phân tượng trưng sự xung đột, chữ quang tượng trưng đức tốt, chữ trần tượng trưng tật xấu.

Có nhà lại bảo “giải kỳ phân” là giải phóng óc nhị  nguyên, phân chia sự vật.  Nhà khác giảng là “lấy sự giản phác chống sự phiền phức“.

Hòa kỳ quang” có người hiểu là đem ánh sáng của mình hòa với những ánh sáng khác, tức không tự tồn tự đại.

Chữ “trạm” cũng trong câu hai có hai nghĩa: sâu kín, trong lặng.  Chúng tôi theo Dư Bồi Lâm, dùng theo nghĩa trong Thuyết văn: “trạm, một dã“, một là chìm, không hiện lên.

Chúng ta để ý hai điều này:

– Tác giả dùng nhiều chữ nói lững: hoặc, tự, ngô bất tri, tượng.

– Chương này là chương duy nhất nói đến thượng đế, khiến chúng tôi nghi ngờ là do người đời sau thêm vô.  Đại ý cũng chỉ là nói về thể và dụng của đạo.

Lê Hòa Phong diễn giải [trích nghiệm giải Đạo Đức Kinh – NXB Đồng Nai 2011]

Chương này Lão Tử muốn nói đến cái không gian bao la vô tận kia, nó đã chứa tất cả mọi thứ như: các hệ mặt trời, những tinh tú với số lượng cực lớn mà vẫn không đầy . Và vực sâu là nơi sinh ra các thực và động vật trước tiên là tổ tông của vạn vật (sẽ nói ở chương 6) oxi hóa kim loại (tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân). Ánh sáng xuyên qua (hòa kỳ quang) trộn lẫn bụi bặm (đồng kỳ trần) nó trong trẻo và trường tồn ,Chúng ta không hiêủ ai sanh ra nó ? ( vì là vật liệu để tạo dựng trời đất nên phải có trước trời đất và tồn tại đến nay). Đối chiếu đoạn này với Pháp giái trong Pháp bảo đàn kinh do Minh Trực thiền sư dịch thật giống nhau. Chương này Lão Tử chứng minh là bầu trời mênh mông (chứ không cho là tròn) đến chương 41) Ngài chứng minh “đại phương vô ngung” nghĩa là khối vuông lớn không có gốc, ám chỉ trái đất này không vuông vậy.