Archive for the tag 'kinh thi'



Lục nga

November 26th, 2007

詩經 : 蓼莪

蓼蓼者莪,匪莪伊蒿。哀哀父母,生我劬勞!
蓼蓼者莪,匪莪伊蔚。哀哀父母,生我勞瘁!
瓶之罄矣,維罍之恥。鮮民之生,不如死之久矣!
無父何怙?無母何恃?出則銜恤,入則靡至。
父兮生我,母兮鞠我。
撫我畜我,長我育我,顧我復我,出入腹我。
欲報之德,昊天罔極!
南山烈烈,飄風發發。民莫不榖,我獨何害?
南山律律,飄風弗弗。民莫不榖,我獨不卒。

Thi kinh : Lục nga

Lục lục giả nga , phỉ nga y hao . Ai ai phụ mẫu , sinh ngã cù lao !
Lục lục giả nga , phỉ nga y úy . Ai ai phụ mẫu , sinh ngã lao tuỵ !
Bình chi khánh hĩ , duy lôi chi sỉ . Tiển dân chi sinh , bất như tử chi cửu hĩ !
Vô phụ hà hỗ ? vô mẫu hà thị ? xuất tắc hàm tuất , nhập tắc mỹ chí .
Phụ hề sinh ngã , mẫu hề cúc ngã .
Phủ ngã súc ngã , trưởng ngã dục ngã , cố ngã phục ngã , xuất nhập phúc ngã .
Dục báo chi đức , hạo thiên võng cực !
Nam sơn liệt liệt , phiêu phong phát phát . Dân mạc bất cốc , ngã độc hà hạt (hại) ?
Nam sơn luật luật , phiêu phong phất phất . Dân mạc bất cốc , ngã độc bất tốt .

DỊCH NGHĨA:

Rau nga cao lớn lại biến thành cỏ hao.  Ôi! Ôi! Cha mẹ sinh ta khổ nhọc vô cùng.
Cỏ nga cao lớn lại biến thành cỏ úy.  Ôi! Ôi! Cha mẹ sinh ta cực nhọc gầy yếu.
Bình rượu nhỏ đã cạn rồi, bình rượu lớn có lỗi.  Sống một thân trơ trọi chẳng bằng chết cho vẹn.  Không cha biết cậy vào ai? Không mẹ biết nương vào ai? Ra không quên được bi thương, vào thì không có người thân.
Cha hề sinh ta, mẹ hề dưỡng ta.  Vuốt ve ta, cho ta bú.  Nuôi ta lớn, dạy dỗ ta.  Trông nom ta, nâng đỡ ta.  Ra vào bồng ẵm ta.  Ơn sâu muốn đáp đền, thật bao la như trời xanh.

[Thi Kinh: tiểu nhã]

DỊCH THƠ:

Cỏ nga cao lớn,
Không phải cỏ nga, mà cỏ hao
Thương thay cha mẹ,
Sinh ta khổ đau.
Cỏ nga cao lớn,
không phải cỏ nga, mà cỏ úy.
Thương thay cha mẹ,
Sinh ta khổ lụy.
Bình đựng rượu trống không,
Nhục cho chén rượu nồng.
Những người cô độc sống,
Không bằng sớm chết đi.
Không cha cậy vào ai?
Không mẹ tựa nơi đâu?
Đi ra thì ngậm sầu,
Trở về như chưa đến.
Cha hề sinh ra ta,
Mẹ hề dưỡng dục ta.
Vỗ về yêu quý ta,
Nuôi lớn khôn che chở.
Lại chăm nom dòm ngó,
Ra, vào ôm ấp ta.
Ơn sâu muốn đáp đền,
Như trời xanh bao la.
Núi nam cao sừng sững,
Gió mạnh thổi vù vù.
Người không ai không may,
Riêng ta sao phải hại!
Núi nam cao chót vót,
Gió mạnh thổi ào ào.
Người không ai không may,
Riêng ta không được mãi,
Nuôi cha mẹ đến già.

Trần Văn Chánh dịch

ENGLISH

Long and large grows the e ; —
It is not the e but the hao .
Alas ! alas ! my parents ,
With what toil ye gave me birth !

Long and large grows the e ; —
It is not the e but the wei .
Alas ! alas ! my parents ,
With what toil and suffering ye gave me birth !

When the pitcher is exhausted ,
It is the shame of the jar .
Than to live an orphan ,
It would be better to have been long dead .
Fatherless , who is there to rely on ?
Motherless , who is there to depend on ?
When I go abroad , I carry my grief with me ;
When I come home , I have no one to go to .

O my father , who begat me !
O my mother , who nourished me !
Ye indulged me , ye fed me ,
Ye held me up , ye supported me ,
Ye looked after me , ye never left me ,
Out and in ye bore me in your arms .
If I would return your kindness ,
It is like great Heaven , illimitable ,

Cold and bleak is the Southern hill ;
The rushing wind is very fierce .
People all are happy ; —
Why am I alone thus miserable ?

The Southern hill is very steep ;
The rushing wind is blustering .
People all are happy ; —
I alone have been unable to finish [my duty] .

 

Đông sơn

November 24th, 2007

 東山 Đông Sơn Đông Sơn
我徂東山、 
慆慆不歸。 
我來自東、 
零雨其濛。 
我東曰歸、 
我心西悲。 
制彼裳衣、 
勿士行枚。 
蜎蜎者蠋、 
烝在桑野。 
敦彼獨宿、 
亦在車下。

ngã tồ đông sơn 
thao thao bất quy 
ngã lai tự đông 
linh vũ kì mông 
ngã đông viết quy 
ngã tâm tây bi 
chế bỉ thường y 
vật sự (sĩ) hàng mi (mai) 
quyên quyên giả thục 
chưng tại tang dã 
đôi bỉ độc túc 
diệc tại xa hạ
Ta chinh chiến núi Đông, 
Biền biệt không trở về. 
Ngày về từ phương Đông, 
Trời mưa rơi lất phất. 
Ta từ phương Đông về, 
Lòng bi thương về tây. 
Lo may áo  mặc thường, 
Hết ngậm đũa hành quân. 
Sâu đâu bò ngọ nguậy, 
Ở trên đám ruộng dâu. 
Người kia co ro ngủ, 
Trơ trọi dưới gầm xe.
我徂東山、 
慆慆不歸。 
我來自東、 
零雨其濛。 
果臝之實、 
亦施于宇。 
伊威在室、 
蠨蛸在戶。 
町畽鹿場、 
熠燿宵行。 
亦可畏也、 
伊可懷也。

ngã tồ đông sơn 
thao thao bất quy 
ngã lai tự đông 
linh vũ kì mông 
quả loã chi thực 
diệc thi vu vũ 
y oai tại thất 
tiêu sao tại hộ 
đinh thoản lộc trường 
dực dực tiêu hành 
diệc khả uỷ dã 
y khả hoài dã
Ta chinh chiến núi Đông, 
Biền biệt không trở về. 
Ngày về từ phương Đông, 
Trời mưa rơi lất phất. 
Quát lâu đà kết trái, 
Quả thòng xuống mái hiên. 
Đầy nhà gián đất chạy, 
Ngoài cửa sổ nhện giăng. 
Đất trống thành sân nai, 
Đom đóm chiếu lập lòe. 
Cảnh thê lương đáng sợ, 
Nhưng đáng bao thương nhớ.
我徂東山、 
慆慆不歸。 
我來自東、 
零雨其濛。 
鸛鳴于垤、 
婦歎于室。 
洒掃穹窒、 
我征聿至。 
有敦瓜苦、 
烝在栗薪。 
自我不見、 
于今三年。

ngã tồ đông sơn 
thao thao bất quy 
ngã lai tự đông 
linh vũ kì mông 
quán minh vu đạt (điệt) 
phụ thán vu thất 
sái tảo khung trất 
ngã chinh duật chí 
hữu đôn qua khổ 
chưng tại lật tân 
tự ngã bất kiến 
vu kim tam niên
Ta chinh chiến núi Đông, 
Biền biệt không trở về. 
Ngày về từ phương Đông, 
Trời mưa rơi lất phất. 
Quán kêu trên tổ kiến, 
Chinh phụ khóc phòng khuê. 
Quét rửa, lấp lỗ vách, 
Nghĩ chinh phu sắp về. 
Khổ qua trái tròn tròn, 
Treo trên dàn củi lật. 
Ta từ khi xa cách, 
Nay đã có ba năm.
我徂東山、 
慆慆不歸。 
我來自東、 
零雨其濛。 
倉庚于飛、 
熠燿其羽。 
之子于歸、 
皇駁其馬。 
親結其縭、 
九十其儀。 
其新孔嘉、 
其舊如何。

ngã tồ đông sơn 
thao thao bất quy 
ngã lai tự đông 
linh vũ kì mông 
thương canh vu phi 
dực dực kì vũ 
chi tử vu quy 
hoàng bác kì mã 
thân kết kì li 
cửu thập kì nghi 
kì tân khổng gia 
kì cựu như hà
Ta chinh chiến núi Đông, 
Biền biệt không trở về. 
Ngày về từ phương Đông, 
Trời mưa rơi lất phất. 
Chim hoàng ly bay bay, 
Cánh chim bay lấp loáng. 
Cô kia về nhà chồng, 
Ngựa đỏ, vàng, đốm trắng. 
Mẹ kết cho khăn giắt, 
Nghi lễ thật rườm rà. 
Chồng vợ mới hài hòa, 
Tình xưa, ta ra sao?
Thi kinh: Mân Phong Trần Văn Chánh dịch

English translation:

We went to the hills of the east ,
And long were we there without returning ,
When we came from the east ,
Down came the rain drizzlingly .
When we were in the east , and it was said we should return ,
Our hearts were in the west and sad ;
But there were they preparing our clothes for us ,
As to serve no more in the ranks with the gags .
Creeping about were the caterpillars ,
All over the mulberry grounds ;
And quietly and solitarily did we pass the night ,
Under our carriages .

We went to the hills of the east ,
And long were we there without returning ,
When we came from the east ,
Down came the rain drizzlingly .
The fruit of the heavenly gourd ,
Would be hanging about our eaves ;
The sowbug would be in our chambers ;
The spiders webs would be in our doors ;
Our paddocks would be deer-fields ;
The fitful light of the glow-worms would be all about .
These thoughts made us apprehensive ,
And they occupied our breasts .

We went to the hills of the east ,
And long were we there without returning ,
On our way back from the east ,
Down came the rain drizzlingly .
The cranes were crying on the ant-hills ;
Our wives were sighing in their rooms ;
They had sprinkled and swept , and stuffed up all the crevices .
Suddenly we arrived from the expedition ,
And there were the bitter gourds hanging ,
From the branches of the chestnut trees .
Since we had seen such a sight ,
Three years were now elapsed .

We went to the hills of the east ,
And long were we there without returning ,
On our way back from the east ,
Down came the rain drizzlingly .
The oriole is flying about ,
Now here , now there , are its wings .
Those young ladies are going to be married ,
With their bay and red horses , flecked with white .
Their mothers have tied their sashes ;
Complete are their equipments .
The new matches are admirable ; —
How can the reunions of the old be expressed ?

 Tác giả – tác phẩm:

 【Đề mục 】:Đông sơn
 【Niên đại 】:Tiên Tần 【Tác giả 】:Thi Kinh

Bài này trong “Quốc phong, Mân phong” của Kinh Thi, tả tâm tình của một chinh nhân trên đường về.

clayre-scholar-immortal-right-large-47.jpg

Quan thư

November 23rd, 2007

VĂN SỬ TRIẾT TINH TUYỂN

KINH THI – SỞ TỪ

關雎
 
關關雎鳩,在河之洲。
窈窕淑女,君子好逑。
參差荇菜,左右流之。
窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。
悠哉悠哉。輾轉反側。
參差荇菜,左右採之。
窈窕淑女,琴瑟友之。
參差荇菜,左右毛之。
窈窕淑女。鐘鼓樂之。

Quan thư 
 
Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ,
Ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc,
Ngụ mị tư phục.
du tai! du tai!
Triển chuyển phản trắc.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ,
Cầm sắt hữu chi.
Sâm si hạnh thái,
tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ.
Chung cổ lạc chi.

DỊCH NGHĨA:

Quan thư

Chim thư cưu kêu quan quan.  Trên cồn sông Hoàng Hà.  Người con gái dịu hiền.  Đẹp đôi cùng quân tử. 
Rau hạnh cọng ngắn dài.  Vớt theo dòng tả hữu.  Người con gái dịu hiền.  Thức ngủ ta cầu mong.  Cầu mong không được gặp.  Ngày đêm ta nhớ trông.  Dằng dặc, nhờ dằng dặc.  Trăn trở ngủ không yên.
Rau hạnh cọng ngắn dài.  Hái theo dòng tả hữu.  Người con gái dịu hiền.  Ta kết thân với nàng trong tiếng đàn cầm, đàn sắt.
Rau hạnh cọng ngắn dài.  Vớt theo dòng tả hữu.  Người con gái dịu hiền.  Ta đánh tiếng chuông tiếng trống để làm vui lòng nàng.

Trần Văn Chánh dịch

DỊCH THƠ:

Quan quan cái con thư cưu
Con sống con mái cùng nhau bãi ngoài.
Dịu dàng thục nữ như ai
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.
Muốn ăn rau hạnh theo giòng
Muốn cô thục nữ, mơ mòng được đâu
Nhớ cô rằng rặc sơn sầu
Cho ta dằn dọc dễ hầu ngủ yên.
Muốn ăn rau hạnh hái về
Muốn cô thục nữ, nay về cùng ta.
Tiếng chuông, tiếng trống vui hòa,
Tiếng đàn cầm sắt mặn mà yêu đương!

Tản Đà dịch

Thư cưu cất tiếng quan quan
Hòa cùng sóng vổ vọng vang đôi bờ
Dịu dàng thục nữ đào thơ
Sánh cùng quân tử duyên tơ mặn mà.
Ngắn dài rau hạnh gần xa
Vói tay vớt lấy cũng là khó mong
Cầu mong thức lại chờ trông
Cầu mong chi lại khó lòng gặp nhau.
Ngày đêm dằng dặc cơn sầu
Ngày đêm trằn trọc rầu rầu sớm khuya
Hái về, rau hạnh hái về
Cùng nàng thục nữ duyên thề sắt son
Ước duyên cầm sắt vuông tròn
Đêm khua chiêng trống vui lòng mỹ nhân.

Hoa Sơn dịch

Nhạc phim ĐÔNG CHÂU LIỆT QUỐC với bốn câu thơ đầu của bài Quan thư [GUAN SUI]

English translation:

THE ODES OF ZHOU AND THE SOUTH

Guan-guan go the ospreys ,
On the islet in the river .
The modest , retiring , virtuous , young lady : —
For our prince a good mate she .

Here long , there short , is the duckweed ,
To the left , to the right , borne about by the current .
The modest , retiring , virtuous , young lady : —
Waking and sleeping , he sought her .
He sought her and found her not ,
And waking and sleeping he thought about her .
Long he thought ; oh ! long and anxiously ;
On his side , on his back , he turned , and back again .

Here long , there short , is the duckweed ;
On the left , on the right , we gather it .
The modest , retiring , virtuous , young lady : —
With lutes , small and large , let us give her friendly welcome .
Here long , there short , is the duckweed ;
On the left , on the right , we cook and present it .
The modest , retiring , virtuous , young lady : —
With bells and drums let us show our delight in her .
Shi Jing [Book of Odes]


Virginia University

TỪ NGỮ

关关[關關] guānguān* on. 〈trad.〉 sound of birds chirping [tiếng chim kêu quan quan]
雎鸠[-鳩] jūjiū* n.  male and female fish hawks [một loài chim nước, con trnốg và con mái sống không rời nhau]
窈窕 yǎotiǎo ①a graceful (of a woman) ②a seductive woman [xinh đẹp, duyên dáng, thuỳ mị]
淑 [shū] (书) kind & gentle [hiền thục, nết na, có đức hạnh]
君子 jūnzǐ* n. man of noble character; gentleman [chỉ người con trai]
好逑 ²hǎoqiú n. a well-matched/happy couple [xứng đôi, đẹp đôi]
参差[參-] cēncī   uneven; irregular ◆n. disparity; difference [dài ngắn không đều nhau]