Archive for the tag 'đông châu'



Giới Chi Thôi bất ngôn lộc

December 2nd, 2007

TẢ TRUYỆN 

 

介之推不言祿

Giới Chi Thôi晉侯賞從亡者;介之推不言祿,祿亦弗及。推曰:「獻公之子九人,唯君在矣(焉)。惠、懷無親,外內棄之。天未絕晉,必將有主。主晉祀者,非君而誰?天實置之,而二三子以為己力,不亦誣乎!竊人之財,猶謂之盜;況貪天之功,以為己力乎?下義其罪,上賞其奸,上下相蒙,難與處矣!」
其母曰:「盍亦求之,以死誰懟?」對曰:「尤而效之,罪又甚焉!且出怨言,不食其食。」其母曰:「亦使知之,若何?」對曰:「言,身之文也,身將隱,焉用文之?是求顯也。」其母曰:「能如是乎?與汝偕隱。」遂隱而死。晉侯求之不獲,以緜上為之田。曰:「以志吾過,且旌善人。」

左傳:僖公二十四年 

 

Giới Chi Thôi bất ngôn lộc 

 

 

Tấn hầu thưởng tòng vong giả;Giới Chi Thôi bất ngôn lộc ,lộc diệc phất cập. Thôi viết :”hiến công chi tử cửu nhân ,duy quân tại hĩ (yên ). Huệ, Hoài vô thân ,ngoại nội khí chi .thiên vị tuyệt tấn ,tất tướng hữu chủ. Chủ tấn tự giả, phi quân nhi thuỳ ? Thiên thực trí chi, nhi nhị tam tử dĩ vi kỉ lực, bất diệc vu hồ !thiết nhân chi tài, do vị chi đạo;huống tham thiên chi công, dĩ vi kỉ lực hồ ? Hạ nghĩa kì tội, thượng thưởng kì gian, thượng hạ tương mông, nan dữ xứ hĩ!”
Kỳ mẫu viết :”Hạp diệc cầu chi, dĩ tử thuỳ đỗi ?” Đối viết :”Vưu nhi hiệu chi ,tội hựu thậm yên !Thả xuất oán ngôn, bất thực kì thực.” Kỳ mẫu viết :”Diệc sử tri chi, nhược hà ?” Đối viết :”Ngôn, thân chi văn dã, thân tướng ẩn, yên dụng văn chi ? Thị cầu hiển dã.” Kỳ mẫu viết :”Năng như thị hồ ? Dữ nhữ giai ẩn.” Toại ẩn nhi tử.
Tấn hầu cầu chi bất hoạch, dĩ Miên Thượng vi chi điền, viết :”Dĩ chí ngô quá ,thả tinh thiện nhân”.

[Tả truyện: Hi công nhị thập tứ niên]

 

Tác giả – Tác phẩm

 

Tả truyện là tác phẩm lịch sử hoàn chỉnh có lối kể chuyện chi tiết đầy đủ và sinh động nhất của Trung Quốc cổ đại. Về tác giả và thời đại của sách nầy, có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng thuyết được chấp nhận phổ biến nhất cho rằng đó là tác phẩm của Tả Khâu Minh, một sử quan của nước Lỗ thời Xuân Thu, sau được nhiều người bổ sung thêm. Phần lớn người ta đều cho rằng Tả truyện là một quyển sử độc lập, nhưng cũng có người cho nó là sách diễn giải kinh Xuân thu – một bộ sử biên niên của nước Lỗ. Niên đại ghi chép trong Tả truyện về cơ bản tương ứng vời kinh Xuân thu, cả hai đều khởi đầu từ năm 722 trước CN (đời vua Ẩn công nước Lổ năm đầu), nhưng năm cuối cùng của Tả truyện so với kinh Xuân thu trễ đi 28 năm, tức dừng lại ở năm 453 trước CN. Về nội dung, Tả truyện ghi chép lại khá đầy đủ và tương đối có hệ thống những sự kiện liên quan đến chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa của các nước thời Xuân thu (770-476 trước CN), trong chừng mực nhất định đã phản ảnh một cách trung thực bộ mặt của thời đại nầy, trở thành tác phẩm lịch sử rất có giá trị đối với việc nghiên cứu xã hội Trung Quốc cổ đại.
Bài trên đây là một đoạn trích trong sách Tả truyện, thuộc niên đại vua Hi công năm thứ 24, ghi lại đoạn đối thoại giữa Giới Chi Thôi với bà mẹ khi quyết định cùng mẹ từ chối lộc vua bỏ đi ở ẩn cho đến chết, và thái độ hối cải của Tấn Văn Công.

 

DỊCH NGHĨA:

 

Vua Tấn thưởng những người tòng vong mà quên Giới Chi Thôi. Thôi không nhắc vua, nên không được tước lộc. Thôi nói: “Vua Hiến Công có chín người con, nay chỉ còn một mình nhà vua… Trời chưa muốn tuyệt nhà Tấn, tất cho người làm chủ.
Ngoài Văn công ra, còn ai đáng coi việc tế tự nước Tấn? Vậy trời đã sắp đặt như thế nào mà hai ba ông kia (chỉ những người tòng vong mà được thưởng tước lộc) lấy làm sức của mình, chẳng phải là tự dối mình ư? Lấy trộm tiền của người, còn gọi là kẻ trộm, huống tham công của trời mà nhận làm công của mình ư? Tham công trời là tội mà bề dưới (cũng chỉ những người tòng vong đó cho là việc nghĩa, còn bề trên thì thưởng lòng gian ấy; thế là trên dưới che đậy lẫn cho, khó ở với nhau lâu được”.
Bà mẹ Giới Chi Thôi nói:
– Con thử xin lộc đi; không xin rồi con có chết, ai vì con mà trách nhà vua?
Thôi đáp:
– Đã chê bọn bề tôi kia mà bắt chước họ thì tội còn nặng hơn. Vả lại mình đã có lời oán vua thí không nên nhận lộc nữa.
Bà mẹ nói:
– Cũng cứ cho vua hay đi, nên không?
Thôi đáp:
– Lời nói là văn của con người. Thân đã sắp đi ẩn mà còn dùng lời nói tô điểm con người làm chi? Như thế là cầu vinh hiển đó.
Bà mẹ nói:
– Con thiệt được như vậy sao? Thôi mẹ con ta cùng ẩn.
Rồi hai người cùng đi ẩn và chết.
Vua Tấn cho tìm không được, lấy đất Miên Thượng là ruộng cúng tế Giới Chi Thô và nói: “Như vậy để ghi lỗi của ta và nêu gương một người hiền”.

Nguyễn Hiến Lê dịch

 

BÀI ĐỌC THÊM

Trích Hồi 37  –  Ðông Châu Liệt Quốc
Giới Tử-Thôi cõng mẹ từ quan


Khi Tấn Văn-Công ban thưởng triều thần, không thấy Giới Tử-Thôi nhưng cũng quên đi, không ai nhắc đến.

Người láng giềng bên nhà Giới Tử-Thôi là Giải-Trương thấy vậy đến nói với Giới Tử-Thôi :
– Ngài cũng có công theo phò Chúa-công trong mười chín năm trời, nay Chúa-công phục nghiệp, lẽ nào lại không hưởng chút công lao ?

Mẹ Giới Tử-Thôi nói :
– Nhà mình nghèo khổ, trước kia con đã cắt thịt đùi để nuôi chúa trong cơn cùng khổ, sao bây giờ không nói ra, may nhận được vài thùng thóc chẳng hơn đi vá giày thuê ư ?

Giới Tử-Thôi nói :
– Tấn Hiến-Công xưa có chín người con, chỉ có Chúa-công là hiền hơn cả. Nay Chúa-công phục-nghiệp ấy là do trời muốn. Các người theo hầu không biết, tự nhận công lao mình, con thấy xấu hỗ lắm.

Bà mẹ nói :
– Con đã là người trọng liêm sĩ, mẹ đây há lại không làm được người mẹ của người biết trọng liêm sĩ sao. Vậy thì mẹ con ta tìm nơi rừng núi sống ẩn dật, chớ nên sống giữa cảnh thị thành nầy.

Nghe mẹ nói, Giới Tử-Thôi mừng lắm, nói :
– Con vẫn thích chốn Miên-Thượng là nơi núi cao, hang sâu , vậy mẹ con ta đến đó mà ở.

Nói rồi, cõng mẹ đến đất Miên-Thượng, làm nhà trong hang đá nương náu.

Láng giềng hàng xóm không biết Giới Tử-Thôi đi đâu cả. Riêng có một mình Giải-Trương biết mà thôi.

Giải-Trương nghĩ tới cảnh bạc bẻo, động lòng liền lén viết một mảnh giấy, thừa lúc đêm tối đem treo nơi cửa thành.

Mảnh giấy viết như sau :
“Có một con rồng, lúc thất thế đàn rắn đi theo, chu du thiên hạ. Rồng đói, một rắn xẻ thịt đùi nuôi. Ðến khi rồng mây gặp hội, đàn rắn hưởng cảnh sung sướng. Chỉ có một rắn chẳng ai hỏi đến.”

Sáng hôm sau quân sĩ trông thấy, đem trình Tấn Văn-Công.

Tấn Văn-Công đọc xong giật mình nói :
– Ðây là Giới Tử-Thôi oán giận ta đó. Khi trước qua nước Vệ, Giới Tử-Thôi cắt thịt đùi nấu cháo cho ta ăn, nay ta ban thưởng công-thần mà quên mất Giới Tử-Thôi, ấy là một điều lỗi lớn !

Tấn Văn-Công liền sai người đến triệu Giới Tử-Thôi, nhưng Giới Tử-Thôi đã cõng mẹ đi mất rồi !

Tấn Văn-Công lại bắt những người láng giềng đến hỏi, nhưng không ai rõ Giới Tử-Thôi đi đâu cả.

Tấn Văn-Công truyền rằng :
– Hễ ai biết được Giới Tử-Thôi đi đâu thì sẽ được phong làm quan.

Giải-Trương đến yết kiến Tấn Văn-Công tâu :
– Bức thư đó không phải của Giới Tử-Thôi chính là tôi đã viết thay đó ! Giới Tử-Thôi không muốn cầu thưởng, cõng mẹ vào ẩn trong hang núi Miên-Thượng. Tôi viết bức thư ấy cốt nhắc cho Chúa-công nhớ.

Tấn Văn-Công nói :
– Nếu không có bức thư của ngươi ta đã bội-nghĩa rồi !

Nói xong phong cho Giải-Trương làm chức Hạ Ðại-phu rồi khiến Giải-Trương dẫn đường đến Miên-Thượng mà tìm Giới Tử-Thôi.  Khi đến nơi, chỉ thấy núi xanh rừng rậm, nước chảy hoa trôi, chim hót véo von, mây che mù mịt, còn Giới Tử-Thôi không thấy đâu cả.

Quân-sĩ bắt mấy người nông-phu gần đấy hỏi.

Nông phu đáp :
– Mấy hôm trước chúng tôi có thấy một người cõng bà cụ già đến đây, ngồi nghỉ nơi chân núi rồi chẳng biết đi về đâu.

Tấn Văn-Công truyền đỗ xe dưới chân núi rồi sai người đi tìm.

Qua mấy ngày, quân-sĩ lục-lạo khắp nơi, vẫn không tìm được tông tích.

Tấn Văn-công nói :
– Ta nghe Giới Tử-Thôi là người chí hiếu, nay cõng mẹ vào rừng, lại giận ta không chịu ra yết kiến, bây giờ ta phóng hỏa đốt rừng thế nào Giới Tử-Thôi cũng cõng mẹ chạy ra.

Ngụy-Thù nói :
– Trong bọn tòng-vong nhiều người có công lao, nay Giới Tử-Thôi ỷ mình có chút công mọn làm khổ đến Chúa-công, để hắn tránh lửa, cõng mẹ ra đây, tôi mắng cho xấu hỗ.

Nói xong, Ngụy-Thù truyền quân-sĩ phóng hỏa khắp khu rừng.  

Lửa to gió mạnh, cháy lan đến mấy dặm. Trong ba ngày lửa mới tắt.
Thế mà Giới Tử-thôi vẫn nhất định không ra. Hai mẹ con ôm nhau chịu chết dưới gốc cây liễu.

Quân sĩ tìm được xác chết, báo lại với Tấn Văn-Công.

Tấn Văn-Công ứa nước mắt, truyền lập miễu mà thờ, đổi tên núi là Giới-Sơn.

Tấn Văn-Công ở đó lo việc chôn cất xong xuôi, lấy ruộng xung quanh núi đặt lảm ruộng tế điền rồi mới truyền hộ giá về triều .

Người sau có bài thơ nói đến cái chết của Giới Tử-Thôi :

Cắt thịt nuôi vua nặng mối tình
Không tham danh lợi để cầu vinh
Giữ câu tiết nghĩa tròn trung hiếu
Còn kể làm chi việc tử-sinh !

 

Quan thư

November 23rd, 2007

VĂN SỬ TRIẾT TINH TUYỂN

KINH THI – SỞ TỪ

關雎
 
關關雎鳩,在河之洲。
窈窕淑女,君子好逑。
參差荇菜,左右流之。
窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。
悠哉悠哉。輾轉反側。
參差荇菜,左右採之。
窈窕淑女,琴瑟友之。
參差荇菜,左右毛之。
窈窕淑女。鐘鼓樂之。

Quan thư 
 
Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ,
Ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc,
Ngụ mị tư phục.
du tai! du tai!
Triển chuyển phản trắc.
Sâm si hạnh thái,
Tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ,
Cầm sắt hữu chi.
Sâm si hạnh thái,
tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ.
Chung cổ lạc chi.

DỊCH NGHĨA:

Quan thư

Chim thư cưu kêu quan quan.  Trên cồn sông Hoàng Hà.  Người con gái dịu hiền.  Đẹp đôi cùng quân tử. 
Rau hạnh cọng ngắn dài.  Vớt theo dòng tả hữu.  Người con gái dịu hiền.  Thức ngủ ta cầu mong.  Cầu mong không được gặp.  Ngày đêm ta nhớ trông.  Dằng dặc, nhờ dằng dặc.  Trăn trở ngủ không yên.
Rau hạnh cọng ngắn dài.  Hái theo dòng tả hữu.  Người con gái dịu hiền.  Ta kết thân với nàng trong tiếng đàn cầm, đàn sắt.
Rau hạnh cọng ngắn dài.  Vớt theo dòng tả hữu.  Người con gái dịu hiền.  Ta đánh tiếng chuông tiếng trống để làm vui lòng nàng.

Trần Văn Chánh dịch

DỊCH THƠ:

Quan quan cái con thư cưu
Con sống con mái cùng nhau bãi ngoài.
Dịu dàng thục nữ như ai
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.
Muốn ăn rau hạnh theo giòng
Muốn cô thục nữ, mơ mòng được đâu
Nhớ cô rằng rặc sơn sầu
Cho ta dằn dọc dễ hầu ngủ yên.
Muốn ăn rau hạnh hái về
Muốn cô thục nữ, nay về cùng ta.
Tiếng chuông, tiếng trống vui hòa,
Tiếng đàn cầm sắt mặn mà yêu đương!

Tản Đà dịch

Thư cưu cất tiếng quan quan
Hòa cùng sóng vổ vọng vang đôi bờ
Dịu dàng thục nữ đào thơ
Sánh cùng quân tử duyên tơ mặn mà.
Ngắn dài rau hạnh gần xa
Vói tay vớt lấy cũng là khó mong
Cầu mong thức lại chờ trông
Cầu mong chi lại khó lòng gặp nhau.
Ngày đêm dằng dặc cơn sầu
Ngày đêm trằn trọc rầu rầu sớm khuya
Hái về, rau hạnh hái về
Cùng nàng thục nữ duyên thề sắt son
Ước duyên cầm sắt vuông tròn
Đêm khua chiêng trống vui lòng mỹ nhân.

Hoa Sơn dịch

Nhạc phim ĐÔNG CHÂU LIỆT QUỐC với bốn câu thơ đầu của bài Quan thư [GUAN SUI]

English translation:

THE ODES OF ZHOU AND THE SOUTH

Guan-guan go the ospreys ,
On the islet in the river .
The modest , retiring , virtuous , young lady : —
For our prince a good mate she .

Here long , there short , is the duckweed ,
To the left , to the right , borne about by the current .
The modest , retiring , virtuous , young lady : —
Waking and sleeping , he sought her .
He sought her and found her not ,
And waking and sleeping he thought about her .
Long he thought ; oh ! long and anxiously ;
On his side , on his back , he turned , and back again .

Here long , there short , is the duckweed ;
On the left , on the right , we gather it .
The modest , retiring , virtuous , young lady : —
With lutes , small and large , let us give her friendly welcome .
Here long , there short , is the duckweed ;
On the left , on the right , we cook and present it .
The modest , retiring , virtuous , young lady : —
With bells and drums let us show our delight in her .
Shi Jing [Book of Odes]


Virginia University

TỪ NGỮ

关关[關關] guānguān* on. 〈trad.〉 sound of birds chirping [tiếng chim kêu quan quan]
雎鸠[-鳩] jūjiū* n.  male and female fish hawks [một loài chim nước, con trnốg và con mái sống không rời nhau]
窈窕 yǎotiǎo ①a graceful (of a woman) ②a seductive woman [xinh đẹp, duyên dáng, thuỳ mị]
淑 [shū] (书) kind & gentle [hiền thục, nết na, có đức hạnh]
君子 jūnzǐ* n. man of noble character; gentleman [chỉ người con trai]
好逑 ²hǎoqiú n. a well-matched/happy couple [xứng đôi, đẹp đôi]
参差[參-] cēncī   uneven; irregular ◆n. disparity; difference [dài ngắn không đều nhau]