TIÊU DAO DU [5]

January 1st, 2008

CHƯƠNG MỘT

THẢNH THƠI TỰ TẠI

【逍遙遊第一】  

惠子謂莊子曰:「吾有大樹,人謂之樗。其大本臃腫而不中繩墨,其小枝卷曲而不中規矩。立之塗,匠者不顧。今子之言,大而無用,眾所同去也。」莊子曰:「子獨不見狸狌乎?卑身而伏,以候敖者;東西跳梁,不避高下;中於機辟,死於罔罟。今夫斄牛,其大若垂天之雲。此能為大矣,而不能執鼠。今子有大樹,患其無用,何不樹之於無何有之鄉,廣莫之野,彷徨乎無為其側,逍遙乎寢臥其下。不夭斤斧,物無害者,無所可用,安所困苦哉!」。

PHIÊN ÂM

Huệ tử vị Trang tử viết :「ngô hữu đại thụ ,nhân vị chi xư ,kì đại bổn ủng thũng nhi bất trung thằng mặc ,kì tiểu chi quyển khúc nhi bất trung quy củ . Lập chi đồ ,tượng giả bất cố . Kim tử chi ngôn ,đại nhi vô dụng ,chúng sở đồng khứ dã .」
Trang tử viết :「tử độc bất kiến li tinh hồ ? ti thân nhi phục ,dĩ hậu ngao giả ,đông tây khiêu lương ,bất tị cao hạ ,trúng ư cơ tịch ,tử ư võng cổ . Kim phu thai ngưu ,kì đại nhược thuỳ thiên chi vân ,thử năng vi đại hĩ ,nhi bất năng chấp thử . Kim tử hữu đại thụ ,hoạn kì vô dụng ,hà bất thụ chi ư kí hà hữu chi hương 、quảng mạc chi dã ,bàng hoàng hồ vô vi kì trắc ,tiêu dao hồ tẩm ngoạ kì hạ ;bất yểu cân phủ ,vật vô hại giả ,vô sở khả dụng ,an sở khốn khổ tai !」

DỊCH NGHĨA

Huệ tử bảo Trang tử:
– Có một cây lớn gọi là cây xư (1). Thân nó nổi u, chỗ lồi chỗ lõm, không dùng dây mực của thợ mộc mà vạch đường được; cành nhỏ của nó cong queo không dùng cái qui (2) và thước vuông để xẻ được. Nó mọc ở ngay bên đường mà không một người thợ mộc nào thèm ngó tới. Thuyết của ông cũng vậy, rộng lớn mà không dùng được, nên không ai theo.
Trang tử đáp:
– Ông có thấy con li tinh (3) không? Nó nép mình để rình mồi, nó nhảy qua đông qua tây, chẳng kể cao thấp, nhưng có ngày nó cũng chết vì bẫy, vì lưới. Còn con thai ngưu (4) thân lớn như đám mây trên trời mà không bắt nổi một con chuột. Ông có một cây lớn mà lo rằng nó vô dụng. Sao không trồng nó ở chỗ hư vô tịch mịch, trong cánh đồng mênh mông, để những kẻ nhàn rỗi thơ thẩn dạo chung quanh thảnh thơi ngủ dưới bóng mát của nó? Nó không sợ bị búa rều đốn, hoặc bị ngoại vật làm hại. Nó không dùng được vào việc gì, thì tai họa làm sao mà đến ? (5)

Nguyễn Hiến Lê dịch

CHÚ THÍCH

(1) Một thứ cây lớn mà gỗ xấu, không dùng được.
(2) Cái compa
(3) Có sách cho là hai con vật: con mèo rừng và con chồn (hoặc con chó sói); Liou Kia hway dịch là con belette, một loài cầy.
(4) Liou Kia hway dịch là con yack, một loại trâu ở Trung Á.
(5) Vương Phu Chi, Diệp Ngọc Lân và Hoàng Cẩm Hoành đều hiểu như vậy, riêng Liou Kia hway dịch là: thì sao lại làm cho ông lo nghĩ? (nguyên văn: an sở khốn khổ tai?)

NHẬN ĐỊNH

Lão tử và Trang tử là hai triết gia làm tốn giấy mực cho đời sau nhiều nhất: mỗi nhà ít gì cũng được cả trăm người khác chú giải. Một phần là vì triết thuyết của họ rất sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới tư tưởng và đời sống Trung Hoa. Nhưng nguyên nhân chính là văn của họ cô đọng quá, hàm súc quá, có thể hiểu được nhiều cách, nhiều chỗ không ai biết chắc được họ muốn nói gì, đành phải suy đoán. Hai bộ Đạo Đức Kinh và Trang tử Nam Hoa Kinh so với hai bộ Luận ngữ và Mạnh tử về phương diện sáng sủa thực khác nhau xa quá: một bên mù mờ bao nhiêu, một bên sáng sủa bấy nhiêu.
Tóm tắt ý chính trong chương Tiêu Dao Du, Diệp Ngọc Lân dẫn lời của Vương Tiên Khiêm (tức Vương Ích Ngô, một triết gia đời Thanh), cho “tiêu dao tự tại là siêu thoát ra ngoài thế vật, theo lý thiên nhên”. Ý đó giống ý của Quách Tượng (học giả đời Tấn, tự là Tử Huyền, cùng với Hướng Tú là những người đầu tiên chú giải Trang tử) trong câu này: “Vật tuy lớn nhỏ khác nhau (…) nhưng mỗi loài cứ theo thiên tính của mình, làm theo khả năng của mình…” thì là tiêu dao. “Theo lý tự nhiên” hay “theo thiên tính” thì cũng vậy.
Nhưng theo Hoàng Cẩm Hoành lại bác ý của Quách Tượng, cho tiêu dao là “vô vi”, vì Hoàng căn cứ vào câu “Bậc chí nhân thì quên mình, bậc thần nhân thì không lập công, bậc thánh nhân thì không lưu danh” ở cuối bài một. (Chí nhân vô kỉ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh).
Vương phu chi (tức Vương Thuyền Sơn, một triết gia danh tiếng đời nhà Thanh) cũng cho rằng phải theo thiên tính của mình (như con chim cưu chỉ bay lên ngọn cây, có khi còn không tới, mà không vì vậy ganh tị với con chim bằng, bay cao được tới chín vạn dặm), nhưng lại chú trọng tới điều kiện này là không phải tùy thuộc cái gì (vô sở đãi) thì mới thực thảnh thơi. Con chim bằng phải tùy thuộc lớp không khí dầy ở dưới nó; Liệt tử cưỡi gió mà bay thật nhẹ nhàng, khoan khoái, nhưng vẫn phải tùy gió nổi lên mới bay được, như vậy chưa thực là tiêu dao. Hễ còn tùy thuộc một cái gì thì chưa được hoàn toàn tự do, làm sao mà thảnh thơi được? Liou Kia hway chắc cũng nghĩ như Vương Phu Chi nên dịch “Tiêu dao du” là “liberté naturelle” (sự tự do thiên nhiên).
Như vậy chúng ta đã có ba điều kiện của sự tiêu dao tự tại rồi.
– Phải thuận thiên tính.
– Không tuỳ thuộc một cái gì (phải được hoàn toàn tự do).
– Vô vi (không lập công, không cầu danh, quên mình đi, tức siêu thoát ra ngoài thế vật để khỏi tuỳ thuộc thế vật); như Hứa Do trong bài 2 là đã tiêu dao; vua Nghiêu trong bài đó chưa tiêu dao, nhưng trong bài 3, khi ở núi Cô Dạ về, chịu ảnh hưởng của bốn vị thần nhân mà quên mất thiên hạ của mình, lúc đó mới được tiêu dao. Quan niệm vô vi này Trang đã mượn của Lão mà còn tiến xa hơn Lão nữa. Theo tôi còn thêm một điều kiện nữa.
– Muốn được tuyệt đối tiêu dao thì phải hoà đồng với vạn vật, như các thần nhân trên núi Cô Dạ (bài 3), lúc đó sẽ chế ngự được lục khí để ngao du trong vũ trụ vô biên (bài 1), nước lửa đều không làm hại mình được (bài 3). Tôi ngờ rằng Trang tử ở đây đã chịu ảnh hưởng của Liệt tử.
Bốn điều kiện kể trên là ý chính trong chương này. Ngoài ra còn vài ý phụ nữa như là “vô tài thì toàn mệnh được, như cây xư (bài 5), “tiểu trí không hiểu được đại trí, như con ve sầu, con chim cưu, con cút cười con chim bằng (bài 1)”, “khéo dùng vật thì không vật nào là vô dụng (bài 4,5); mà chỉ hạng đại trí mới biết dùng những vật tầm thường vào những việc lớn (bài 4).

Nguyễn Hiến Lê

Xem {{post id=”tieu-dao-du-1″ text=”TIÊU DAO DU [1]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-2″ text=”TIÊU DAO DU [2]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-3″ text=”TIÊU DAO DU [3]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-4″ text=”TIÊU DAO DU [4]”}}

>>——————————————-

Trang Tử Nam Hoa Kinh
Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản văn hoá

Về việc xuất bản sách Nguyễn Hiến Lê

Nhà văn quá cố Nguyễn Hiến Lê có trên một trăm tác phẩm đã đăng ký tại Hãng Bảo hộ tác quyền Tác giả Việt Nam thuộc bộ Văn Hoá số 189/VH/HBH ngày 16-12-1988.
Nhà xuất bản nào muốn in sách Nguyễn Hiến Lê xin tiếp xúc để thương lượng với ông Lê Ngộ Châu và ông Nguyễn Q. Thắng là những người được ủy nhiệm hợp pháp, đại diện cho gia đình nhà văn Nguyễn Hiến Lê.

Điạ chỉ:
160 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3
256/20/42 CMT8, P.5, Q. Tân Bình – TP HCM

>>——————————————–

Cuốn sách Trang tử Nam Hoa Kinh của Nguyễn Hiến Lê chỉ có phần dịch nghĩa, còn phần nguyên văn chữ Hán và Hán Việt do Hoa Sơn bổ sung . Các bậc nho học nếu thấy có gì sai sót về nguyên tác hoặc Hán Việt thì xin vui lòng chỉ bảo cho.
Xin đa tạ

Hoa Sơn

Print Friendly, PDF & Email