THIÊN THƯỢNG 1

December 7th, 2007

laotzu.gif

 LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG MỘT

 道可道、非常道。名可名、非常名無名天地之始有名萬物之母。故常無欲以觀其妙、常有欲以觀其徴。此兩者同出而異名。同謂之玄。玄之又玄、衆妙之門。

PINYIN

dào kě dào , fēicháng dào. míng kě míng , fēicháng míng wú míng tiāndì zhī shǐ yǒumíng wàn wù zhī mǔ. gùcháng wú yù yǐ guān qí miào , chángyǒu yù yǐ guān qí zhēng. Cǐ liǎng zhě tóng chū ér yì míng. Tong wèi zhī xuán. xuánzhīyòuxuán , zhòng miào zhī mén.

PHIÊN ÂM

Đạo khả đạo, phi thường đạo ; danh khả danh, phi thường danh. Vô, danh thiên địa chi thủy ; hữu, danh vạn vật chi mẫu.  Cố thường vô, dục dĩ quan kì diệu; thường hữu dục dĩ quán kì hiếu.  Thử lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền.  Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn.

ANH NGỮ

The Way that can be followed is not the eternal Way
The Way that can be followed is not the eternal Way.
The name that can be named is not the eternal name.
The nameless is the origin of heaven and earth
While naming is the origin of the myriad things.
Therefore, always desireless, you see the mystery
Ever desiring, you see the manifestations.
These two are the same—
When they appear they are named differently.
This sameness is the mystery,
Mystery within mystery;
The door to all marvels.

-Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo vĩnh cửu bất biến; tên mà có thể đặt ra để gọi nó [đạo] thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến.

Không“, là gọi cái bản thủy của trời đất; “” là gọi mẹ sinh ra muôn vật.  Cho nên, tự thường đặt vào chỗ “không” là để xét cái thể vi diệu của nó [đạo]; tự thường đặt vào chỗ “” là để xét cái [dụng] vô biên của nó.

Hai cái đó [Không] cũng từ đạo ra mà khác tên, đều là huyền diệu.  Huyền diệu rồi lại thêm huyền diệu, đó là cửa của mọi biến hóa kỳ diệu.

LỜI BÀN

lao tzu

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

Chương đầu này là một trong những chương quan trọng nhất mà lại làm cho ta chúng ta lúng túng nhất vì không biết chắc được Lão Tử muốn nói gì.  Lão Tử chỉ bảo: Đạo không thể diễn tả được, mà không nói rõ tại sao.  Đạo là “không”, siêu hình, là bản nguyên (hoặc tổng nguyên lý của vũ trụ), cái “thể” của nó cực kỳ huyền diệu; mà cái “dụng” của nó lại vô cùng (vì nó là MẸ của vạn vật), cho nên người thường chúng ta – một phần tử cực kỳ nhỏ bé của nó, đời sống lại cực kỳ ngắn ngủi – may lắm là thấy được vài quy luật của nó, vài cái “dụng” của nó chứ không sao hiểu nó được.  Lão Tử mở đầu Đạo Đức Kinh bằng 6 chữ như có ý báo trước cho ta rằng ông sẽ chỉ có thể gợi cho ta ít điều về đạo thôi, để cho ta suy nghĩ, tìm hiểu lấy bằng trực giác, chứ ông không chứng minh cái gì cả.  Chính ông, ông cũng không hiểu rõ về đạo, ngôn ngữ của ông không diễn tả nó được.  Tóm lại, đại ý chương này là: đạo vĩnh cửu bất biến, không thể giảng được, không thể tìm một tên thích hợp với nó được; cái thể của nó là “không”, huyền diệu vô cùng, mà cái dụng của nó là “hữu” lớn lao vô cùng.

Lê Hòa Phong diễn giải [trích nghiệm giải Đạo Đức Kinh – NXB Đồng Nai 2011]

Thời quân chủ.chuyên chế : “ Đạo”quân thần mang ý nghĩa cực đoan .(.quân xử thần tử…),” Đạo” phụ tử (phụ xử tử vong…) không thể còn mãi được. “Danh“(vua là chí tôn thiên tử )cũng không còn mãi được. “Vô” là kế hoạch hết sức công phu để tạo dựng trời đất. “Hữu” là sự gia công gom góp bảy thứ vật trong vũ trụ: đất, đá, kim loại, nước, dầu, không khí và lửa, được đặt để đúng nơi chốn và cho chúng vận hành mà hóa sinh ra vạn vật ( nên gọi là mẹ của vạn vật).
Cho nên, luôn muốn nghĩ ngợi suy tư “Vô vi” về đề tài nào đó mà có lợi cho nhân quần xã hội thì sẽ thấy được những điều kỳ diệu, luôn muốn trau luyện cách gia công “Hữu vi” thì sẽ thấy được sự khéo léo đẹp mắt. Nếu hai sự việc cùng được tiến hành sẽ sản xuất ra biết bao sản vật, đường lối, chủ trương đúng đắn thì xã hội càng văn minh, sung túc, thuận lợi và tiện nghi. Vì “Vô vi” (động não) là cánh cửa đi vào mọi sự sáng tạo ra lắm thứ huyền diệu.
Tóm lai: Sau khi phân tách ta thấy dường như có Hai Đạo khác nhau, nhưng kì thật nó chỉ là một: Như chiếc xe vận tải, khi dùng để chở hàng hóa thì nó giúp ta, còn khi nó chở chất nổ đi khủng bố thì có thể nó giết ta cũng nên.

TỪ NGỮ

玄之又玄

非常 【fēicháng】 adv. ①extraordinary; unusual; special ②very; extremely; highly

玄之又玄 【xuánzhīyòuxuán】 extremely mysterious and abstruse

天地 【tiāndì】 n. ①heaven and earth

KHÔNG

Từ buổi sơ huyền một khối không
Vật đen hổn độn cả trời không
Dù nhìn không có nhưng là
Dẩu thấy chân không thiệt chẳng không
Thật tướng bản tâm không lại
Xác thân sanh diệt có rồi không
Trân châu ngọc quý thường hằng
Biết sớm tìm về ắt ngộ không

Hoa Sơn June 25th, 2006

Copy and Paste the code below
Email and IM
Websites
Forums

22 Responses to “THIÊN THƯỢNG 1”

  1. Phuongon 21 Jul 2008 at 12:28 pm

    Những bản dịch Đạo Đức Kinh mỗi nhà in mỗi khác không biết đường nào mà hiểu nữa ?

  2. Hangon 22 Jul 2008 at 11:41 am

    tôi thấy bản của Nguyễn Hiến Lê là đáng tin cậy nhất.

  3. nguyen nhienon 14 Sep 2008 at 11:03 pm

    Để giảng giải nguồn gốc của vũ trụ các triết học gia luôn chủ quan vì không
    làm sao có thể thoát khỏi cách này.Bản thân triết gia cũng là sinh vật thọ tạo
    chỉ gợi ý ra cái hướng để tha nhân tư duy theo cách nghĩ của mình.Con người
    gặp rất nhiều trở ngại khi thuyết phục ai đó tin theo nhưng thiếu minh chứng
    khoa học.Lão Tử

  4. nguyen nhienon 14 Sep 2008 at 11:22 pm

    Lão Tử cũng là một trong nhiều triết gia uyên bác muốn tha nhân tin rằng vũ trụ
    quan của Ông là hơp lý.Bằng nhiều cách diễn tả khác nhau nhiều triết gia khác
    cũng có quan điểm tương tự.Lời bàn của Nguyễn Hiến Lê giúp chúng ta hiểu tư
    tưởng của Lão Tử.

  5. vuon 28 Oct 2008 at 9:06 am

    Chương này đã giải quyết Bất Khả Tri.

  6. vihaiauon 14 Dec 2008 at 9:13 pm

    Ngay cả Lão Tử đả nói rõ ở 2 câu đầu thì còn ai có thể dịch cho tường tận được.Có chim bỏ ná,có cá bỏ cẩn thì ta có thể hiểu thêm chút ít nữa là mừng quá rồi.

  7. Tùngon 13 Apr 2009 at 1:27 am

    Tui thấy phần giải thích bằng tiếng Anh dễ hiểu hơn tiếng Việt nhiều… Chắc là do tại hạ mất gốc?? :D

  8. Tùngon 13 Apr 2009 at 1:32 am

    Ý tui là phần dịch chứ không phải lời bàn!! :D

  9. Gia Minhon 24 Apr 2009 at 2:11 am

    Danh khả danh, phi thường danh. Ngay câu đầu trong cuốn Đạo đức kinh này đã khuyên không nên tìm cái Đạo trong từng ngôn từ, lời nói. Cho nên bản dịch nào cũng vậy mà thôi, ta chỉ có thể hiểu được đạo bằng cách đặng ý quên lời, tự mình cảm nhận và tìm hiểu ngay trong bản thể của mình mà thôi

  10. Calvinon 24 Jun 2009 at 9:54 pm

    I really really like Lao Tu. He’s my respected Teacher and Saint..
    He’s Thai Thuong Lao Quan, a Saint of Heaven.

  11. le thanhQuangon 04 Dec 2009 at 8:04 am

    Đạo đức Kinh thực chất là một bản kinh tối thượng thừa của Phật giáo.Lão Tử thực chất là một vị độc giác Phật.Đạo đức Kinh mở thêm một chương trong quyển sách,mà nội dung diễn tả chân lý, diễn tả trạng thái ngộ đạo của các bậc đắc đạo.Cuốn sách đó bao gồm các chương: Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Upanisat,Nam hoa Kinh,và Đạo đức Kinh.Chúng ta là những kẻ hạ căn, có được cái thượng phúc là mê đọc sách đạo.Khi đoc sách đạo luôn luôn phải tâm niệm: ta là kẻ muốn uống nước cam lổ,đang nghe tả về bản chất của dòng nước cam lồ.Phải nghìn vạn kiếp tu tập chân đạo,may ra ta mới được nếm trải vị nước cam lồ.

  12. Christine Håkanssonon 02 Jan 2010 at 11:59 am

    Có một bản dịch mới của Đinh Sĩ Trang mình thấy rất là hay. Tựa đề là “Đạo & Đức” của nhà xuất bản Văn Nghệ.

  13. quangon 15 Feb 2010 at 12:30 am

    tôi đọc sách này vi như người uống nước cam lồ tự biết nóng lạnh. Lão Tử đúng
    là vị Độc giác phật

  14. quangon 15 Feb 2010 at 12:30 am

    tôi đọc sách này vi như người uống nước cam lồ tự biết nóng lạnh. Lão Tử đúng
    là vị Độc giác phật

  15. quangon 15 Feb 2010 at 12:30 am

    tôi đọc sách này vi như người uống nước cam lồ tự biết nóng lạnh. Lão Tử đúng
    là vị Độc giác phật

  16. Tranbathienon 26 Feb 2010 at 6:16 pm

    Tôi đồng ý chương đầu là chương quan trọng nhất của đạo đức kinh. Để hiểu được Đạo đức kinh, ta cần có phương pháp phù hợp với người viết thì may ra ngộ được cái ý của tác giả.
    Theo tôi, chương đầu có nghĩa là không thể có một chân lý tuyệt đối bất biến với không gian, thời gian, bối cảnh xã hội… Mọi chân lý trong vòng nhân sinh đều phụ thuộc vào các yếu tố chung quanh như không gian, thời gian, bối cảnh.
    Tôi đưa ra giải thích này vì dựa vào cách nghiên cứu…
    1. Trước hết về ngôn ngữ…
    Chữ đạo và chữ danh của thời Lão Tử cho đến đời nay, trải hàng mấy ngàn năm. Người Trung quốc đã ghép vào các từ này bao nhiêu là ý nghĩa khác. Đạo là con đường, rồi là phương pháp, rồi là những chuẩn mực-đạo đức xã hội… Dường như từ thời Lão tử, Đạo, Danh chỉ được hiểu rộng là phương pháp thực hiện một mục tiêu nào đó mà thôi. Nếu ta dùng cách hiểu ngày nay để hiểu đời xưa thì sẽ lọt vào ma trận của ngữ nghĩa. Hầu hết các lời giải thích đều cho rằng chương đầu này là vô cùng và không thể hiểu được.
    Nhưng nếu ta dùng các ngữ nghĩa của thời Lão tử thì hy vọng hiểu được các ý của Đạo đức kinh rõ ràng hơn.
    2. Bối cảnh nghiên cứu:
    Lão tử quan sát các chuyển biến xã hội và liên hệ biến chuyển xã hội với các biến chuyển tự nhiên. Cả cái tự nhiên của đất trời bao la với cái tự nhiên trong cơ thể con người. Ông cố đưa ra một quy tắt chung cho các quy luật phức tạp này. Nhờ mục tiêu kết hợp quy luật vận động xã hội với vận động tự nhiên, Lão tử phát hiện một quy luật mới được thể hiện ở chương đầu. Ấy là không có quy luật nào bất biến cả. Mọi quy luật chỉ đúng trong một bối cảnh giới hạn.
    Khi hiểu được tính giới hạn của mọi quy luật ta sẽ tìm được tính vô hạn của các quy luật.

    Như thế phương pháp nghiên cứu của Lão Tư có lẽ dựa vào thực chứng. Ông quy nạp các hiện tượng thực nghiệm vào các quy luật tư duy theo kiểu đời nay gọi là triết.
    Khi đưa ra lối giải thích này, tôi không nhìn nhận các mối quan hệ siêu hình trong Đạo đức kinh khi Lão tử đúc kết và viết tác phẩm này. Tôi chỉ cho rằng, Lão tử dựa vào thực tế và quy nạp từng quy luật đơn lẻ. Sau đó cố hệ thống hóa chúng. Và khi hệ thống hóa các quy luật ông nhận ra không thể hệ thống được. Nghĩa là không có loại chân lý tuyệt đối bất biến như nói trên.
    Từ chương này về sau, tôi chỉ dùng phương pháp từ nguyên học, hiểu các từ theo cách hiểu của 3000 năm trước và phương pháp thực chứng nghĩa là chỉ dựa vào đời sống cụ thể mà xét. Như vậy hoàn toàn khử thiêng…

  17. Quyềnon 14 Jan 2011 at 4:05 pm

    hic hic, nghe bác gì ở trên nói đạo đức kinh là kinh điển của phật giáo và Lão Tử cũng là 1 vị phật thì tôi rùng hết cả mình. Không biết bác ý có sâu xa gì với phật giáo ko? chứ cái tình trạnh lẫ lộn thế này thì nên xem lại triết cơ bản đi, bắt đầu từ cái đơn giản nhất là lịch sử, xuất phát từ đâu và khi nào?

  18. Lê hòa Phongon 15 May 2011 at 6:30 am

    Tôi có viết quyển Nghiệm giải Đạo Đức kinh tg Lê hòa Phong và gởi đến Nxb Đồng Nai để xin xuất bản. Vì thời Chiến quốc,họ vì tham cứ lo chiếm đoạt giết vua đoạt vị.vì thế Lão Tử không thể nói rỏ “lời sấm” ấy.Mãi đến nay (thời dân chủ) chúng ta mới có thể hiểu để Nghiệm Giải :Vì Yêu thương muốn cùng vạn loài chung sống nên Tạo hóa tạo dựng trời đất qua 2 bước. 1là Vô vi (nghiêng cứu thật tỷ mỹ đồ án :muốn được vạn loại cùng sống thì phải có chổ nơi để đi đưng, để ăn, uống,thở.Suy tính ấy gọi là “Vô vi”.2 là tra tay vào quy tập các vật lệu gồm: Chất cứng là:Đất,đá,kim loai. Chất lõng: Nước,dầu. Chất Khí là các loại khí, cùng chất (bán hữu hình ) là Lữa làm năng lương vận hành và sanh ra vạn vật…Đạo sanh Đức (đức hiếu sinh).Đức sinh 2 Vô,Hữu.2 sinh 3 :Chất cứng,lõng,khí. 3 sinh vạn vật (42)….

  19. Lê hòa Phongon 26 Jun 2011 at 11:07 am

    Hiền Huynh Hoa Sơn kính mến.
    Toi muốn gởi bản thảo quyển Nghiệm Giải Đạo Đức Kinh đễ cùng các Huynh thảo luận, nhưng vì không biết cách nào đễ gởi đến Huynh .Vậy khi nhận được ý tôi,xin Huynh chỉ tôi cách gởi đễ tôi có được cái duyên hạnh ngộ và cùng quý Huynh đàm luận về Đạo Đức .
    Chân thành biết ơn quý Hiền Huynh.
    Tôi

  20. Anonymouson 26 Aug 2011 at 12:21 pm

    Bạn le thanhQuang nói đúng rồi đó nhưng không hiểu bạn ấy có hiểu đúng nó là gì không.

  21. Lê Hòa Phongon 22 Apr 2012 at 4:27 am

    Phần thứ hai:
    Phiên âm , dịch nghĩa , diễn giãi

    CHƯƠNG 1
    Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh. Vô danh thiên địa chi thủy. Hữu danh vạn vật chi mẫu. Cố, thường vô dục, dĩ quan kỳ diệu. thường hữu dục, dĩ quan kỳ khiếu. Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh. Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền chúng diệu chi môn.
    DỊCH NGHĨA
    Đạo đang sữ dụng không là Đạo thường còn. Danh đang dụng không là danh thường còn. “Vô” là tên chỉ cái có trước trời đất. “Hữu” là tên chỉ mẹ của vạn vật. Cho nên, thường muốn làm “Vô” đem lại sự mới lạ hay ho, thường muốn làm ‘Hữu” đem lại sự khéo léo đẹp đẽ. Nếu hai sự việc cùng thực hiện, đem lại những (thứ) tên gọi khác nhau, cùng là mới lạ, khéo léo. Khéo lạ hơn nữa. Là cửa của mọi phát minh.

    DIỄN GIẢI
    Lão Tử có nói (chương 25)Trước khi có trời đất đã có Đạo . Đạo có một lập trường không đỗi . . vậy lập trường không đổi cũa Đạo là gì ?. Có phải Đạo muốn vạn vật mãi mãi sinh sôi và cùng chung sống trong sự bão bộc của Đạo, còn Đạo Quân Thần của Vua chúa đặt ra có chủ trương gì ? . .Có phải vua chúa muốn lấy quyền uy ấy đễ tước đoạt mọi thứ kể cã quyền được sống của thần dân họ ? Còn “Danh’: Vua là Chí tôn Thiên tử – Tạo hóa thật sự Ban cho họ hay họ tự tiếm quyền, để làm gì ? . Có phải là họ muốn trao truyền cho con cái, cho giồng họ đễ đời đời ngồi trên, hưỡng trước mọi thứ ,và còn tước đoạt kễ cả quyền được sống.Vì không thể nói thẵng nên Lão Tử phải viết quanh “ Đạo khả đạo phi thường đạo .Danh khả danh phi thường danh” ( Đoạn nầy có thể Doãn Hĩ được nghe giãi và ông đã bằng lòng tiếp tay với Lão Tử che đậy thêm ,nên chúng ta không còn ai hiễu được ý của Lão Tử muốn nói gì ? .
    “Vô” là kế hoạch hết sức công phu và chu tất để tạo hóa tạo dựng trời đất. “Hữu” là sự gia công gom góp bảy thứ vật trong hổn độn gồm : đất, đá, kim loại, nước, dầu, không khí và lửa, được đặt để đúng nơi chốn và cho chúng vận hành mà hóa sinh ra vạn vật ( nên gọi là mẹ của vạn vật).
    Cho nên (con người) nếu luôn muốn nghĩ ngợi ,suy tư “Vô vi” về đề tài nào đó ,mà có lợi cho nhân quần xã hội thì sẽ thấy được nhiều điều kỳ diệu, luôn muốn và cần cù trau luyện cách gia công “Hữu vi” thì sẽ thấy được sự khéo léo đẹp mắt.
    Nếu hai sự việc cùng được thực hành sẽ sản xuất ra biết bao sản vật, đường lối, chủ trương đúng đắn thì xã hội càng văn minh, sung túc, thuận lợi và tiện nghi. Vì “Vô vi” (nghiên cúu) là cánh cửa đi vào mọi sự sáng tạo ra lắm thứ huyền diệu.
    Lão Tử thấy xót xa : Đạo của Tạo hóa bị Đạo Quân Thần cưởng đoạt .Như chiếc xe tải, khi dùng để chở hàng hóa thì nó giúp đời, còn khi nó nhận lệnh ai đó chở bôm đi khủng bố thì nó giết ta ,việc đó ta và Lão Tử không chấp nhận được .
    Đạo của Tạo hóa là thường. đạo . . .Đạo Vua Tôi là phi thường đạo !

    CHƯƠNG 2

    Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ tư ác dĩ. Giai, tri thiện chi vi thiện tư bất thiện dĩ. Cố, hữu vô tương sinh. Nan dị tương thành. Trường đoản tương giao. Cao hạ tương khuynh. Âm thanh tương hòa. Tiền hậu tương tùy. Thị dĩ thánh nhân xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo. Vạn vật tác yên nhi bất từ. Sinh nhi bất hữu. Vi nhi bất thị. Công thành nhi bất cư. Phù duy bất cư thị dĩ bất khứ.

    DỊCH NGHĨA
    Người đời đều biết: tốt là tốt thì đã có cái xấu rồi, đều biết sự lành là lành thì đã có sự chẳng lành rồi. Bởi vậy, có với không cùng sinh, khó với dễ cùng thành, dài với ngắn cùng hình, cao với thấp cùng chiều, giọng và tiếng cùng họa , trước và sau cùng theo, vậy nên Thánh nhân dùng Vô vi mà xử sự, dùng Bất ngôn mà dạy bảo, để vạn vật nên mà không cản, sống mà không chiếm đoạt, làm mà không cậy công, thành công mà không ở lại, vì bởi không ở lại nên không bị bỏ đi.

    DIỄN GIẢI
    Lão Tử mượn sự: tốt xấu, thiện ác, cao thấp v.v… làm đề tài, ấy là ông muốn nói đến sự so sánh. Phần giữa đề cập đến vai trò của thánh nhân. Phần sau nói về ý hướng của thánh nhân..
    Nhân đây tôi mượn hình ảnh đối xử giữa người và người: Ông A bê chậu nước đến ông B, ông A bị té, chậu nước bị đổ, ông B chạy đến đỡ ông A lên và lo lắng hỏi: “Có sao không?” Ông C bê chậu nước đến ông D, ông C bị té, ông D không đỡ lên mà còn đánh cho vài gậy. Ông E bê chậu nước đến cho ông F, ông E bị té, nước bị đổ. Ông F không đỡ cũng không đánh mà bảo quân sĩ chém đầu ông E. Quý vị nghĩ thế nào ? Cùng là con người sao lại xữ sự khác biệt vậy ?Có được gọi là bất công hay không ? Nhưng người thời ấy họ hợp thức hóa án chém đầu kia với tội danh khi quân phạm thượng mà quần thần thời ấy đành chấp nhận. Lão Tử có lần nói :kẻ làm tôi, làm con không có cách gì đễ giử được mạng của mình ! .
    Dùng Vô Vi xữ sự: Qui ẩn, hoặc mặc cho mọi sự tiến triển rồi tự nó kết thúc.
    Dùng Bấc ngôn mà dạy :Là làm những việc khác để làm gương như: Sống mà không chiếm đoạt, làm cật lực mà không cậy công, xong việc mà không ở lại.
    Lại một ví dụ nữa giữa dữ và hiền. Ta thấy con trâu và người cày, vậy con cọp có sức mạnh như trâu không ? Tại sao không ai bắt con cọp cùng ta đi cày ? Xin thưa :Cọp quá dữ mà trâu thì hiền lành. Vậy hiền lành và dữ tợn được gì? Xin thưa : Hiền như trâu, bò, ngựa mổi năm chúng sanh mỗi con, còn dữ như cọp,beo, sư tử được báo động là sấp bị tuyệt chũng, cũng như vua chúa hiện nay không còn bao nhiêu trên thế giới ! và cái quyền muốn giết ai thì giết đã không còn .
    Chương 2 nhắc ta so sánh, không phải ở điểm ngắn dài, cao thấp mà nên so sánh giữa công bằng và không công bằng giữa hiền và dữ, mà đến hồi kết sẽ ra sao. ( Những chương sau chúng ta lần lượt nhận rỏ )

    CHƯƠNG 3
    Bất thượng hiền sử dân bất tranh. Bất quý nan đắc chi hóa sử dân bất vi đạo. Bất hiện khả dục sử dân tâm bất loạn. Thị dĩ thánh nhân chi trị. Hư kỳ tâm, thực kỳ phúc, nhược kỳ chí, cường kỳ cốt. Thường sử dân vô tri, vô dục. Sử phù trí dã bất cảm vi dã. Vi vô vi tắc vô bất trị
    DỊCH NGHĨA
    Không tôn bậc hiền tài nên dân không tranh giành, không quý của khó được (vật báu) nên dân không trộm cướp, không phô bày sự ao ước thì lòng dân không loạn. Vì vậy Thánh nhân nên dùng cách cho dân được: Tâm thì bình thản, no cái bụng, yếu cái chí, mạnh cái xương, nên khiến cho dân không biết không ham. Khiến kẻ trí không dám dùng sự quỷ quyệt. Nếu làm theo Vô vi thì không gì là không trị.

    DIỄN GIẢI
    Thời nay Hiền tài lo phát triễn kinh tế, công,nông nghiệp, kĩ nghệ. Thời của Lão Tử là thời chiến tranh khốc liệt nhất của Trung Quốc (thời Xuân Thu sang thời Chiến quốc kéo dài trên 500 năm). Văn thì mưu lược khôn lanh, hùng biện còn Võ thì gan lì, tàn bạo giỏi võ nghệ chỉ để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Như Lưu Bang cam phận ở Tây Thục hòa cùng Hạng Vũ, nhưng khi thu nạp được Hàn Tín thì khởi cuộc đao binh, tiến đánh Hạng Vũ, chiếm lấy nước Sở. Vả lại Hàn Tín lúc trai trẻ không hề muốn làm ruộng hay làm thợ để sinh sống mà chỉ nghĩ đến cách bày binh bố trận nên Tín nghèo không đủ cơm mà ăn, phải nhờ cơm của bà già làm nghề giặt lụa. Đến khi thắng Sở, Hàn Tín được cắt đất phong làm vua nước Tề (Tề Vương,) dân chúng thời ấy luôn mơ ước thèm khát, luôn không lo làm nông, làm công mà cứ hun chí lập công bằng cách biến thành hiền tài để vua chúa trọng dụng. “Yếu cái chí” là như vậy. Vì thời ấy đất nước nghèo một phần cũng là do thiếu người sản xuất. Lòng luôn ao ước mong tưởng chuyện lên rừng xuống biển tìm báu vật hay thuốc trường sinh ,học binh thư hay luyện võ nghệ để rạng rỡ tông môn, làm giàu không bằng cách lao động, mà chỉ dùng trí khôn của họ lừa gạt hay giết kẻ khác. Nếu người cầm quyền biết nghĩ ngợi “Vô vi” tìm ra những phương cách theo đường lối của Đạo là thương dân, lo lắng cho cuộc sống của nhân dân thì không gì mà không yên . Nếu dân biết sống đủ, biết rèn cái tâm bình thản thì sẽ không có chuyện xấu nào nảy sinh.(Hiền tài phục vụ chiến tranh, Lão Tử không tôn quí và khuyên người đừng nên tôn quí)
    Lão Tử thấy rõ con đường dẫn đến những tranh đoạt của con người từ vua đến quan luôn cả dân là muốn tìm danh vị bằng cách dùng vũ lực và bằng mưu trí,
    Nên ông muốn mọi người, nhất là kẻ trí phải biết cách hướng đến một sự ổn định trong tâm, cố làm cho đất nước được an trị trên sự yêu thương và bình đẵng.
    ( Đọc Đạo Đức kinh mà so sánh sự việc, ta dễ tìm ý của Lão Tử hơn)

    CHƯƠNG 4
    Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề tự vạn vật chi tông. Tỏa kỳ nhuệ , giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần. Trạm hề tự hoặc tồn. Ngô bất tri thùy chi tử. Tượng đế chi tiên.
    DỊCH NGHĨA
    Đạo thì phòng bung lên nhưng chứa mãi mà không đầy. Sâu như vực thẳm dường như tổ tông của vạn vật. Nó làm cho nhụt cái bén nhọn, tháo gỡ rối rắm điều hòa ánh sáng, đồng cùng bụi bặm, nó rất trong trẻo và trường tồn. Ta không biết nó là con của ai. Nó có trước hình tượng trời đất.
    DIỄN GIẢI
    Chương này Lão Tử muốn nói đến cái không gian bao la vô tận kia, nó đã chứa tất cả mọi thứ như: các hệ mặt trời, những tinh tú với số lượng cực lớn mà vẫn không đầy . Và vực sâu là nơi sinh ra các thực và động vật trước tiên là tổ tông của vạn vật (sẽ nói ở chương 6) oxi hóa kim loại (tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân). Ánh sáng xuyên qua (hòa kỳ quang) trộn lẫn bụi bặm (đồng kỳ trần) nó trong trẻo và trường tồn ,Chúng ta không hiêủ ai sanh ra ,mà nó có trước trời đất.( vì là vật liệu để tạo dựng trời đất nên phải có trước trời đất và tồn tại đến nay). Đối chiếu đoạn này với Pháp giái trong Pháp bảo đàn kinh do Minh Trực thiền sư dịch thật giống nhau.(Cố tìm nhưng chưa thấy Lão Tử chống hiện tượng Big Bang)
    Chương này Lão Tử chứng minh là bầu trời mênh mông (chứ không cho là tròn) đến chương 41) Ngài chứng minh “đại phương vô ngung” nghĩa là khối vuông lớn không có gốc, ám chỉ trái đất này không vuông vậy.

    CHƯƠNG 5
    Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu. Thánh nhân bất nhân dĩ bá tánh vi sô cẩu. Thiên địa chi gian kỳ du thác thược hồ. Hư nhi bất khuất. Động nhi dũ xuất. Đa ngôn sổ cùng bất như thủ trung.
    DỊCH NGHĨA
    Trời Đất không có lòng nhân coi mọi vật như loài chó rơm. Thánh nhân cũng không có lòng nhân xem trăm họ như loài chó rơm. Khoảng giữa trời và đất như cái óng bể trống không mà vô tận, động thì hơi ra, nói nhiều đến không thể hết, không giống như ở trong (bao bọc bên ngoài).
    DIỄN GIẢI
    Trời đất không theo ý muốn của mọi loài, (luyến mạng sống) khi cần cho sự tiến hóa phải dùng đến sự chết, bị cho là bất nhân, còn thánh nhân ,có khi do muốn tranh giành vật báu mà buộc người phải bán mạng để họ thỏa nguyện cũng bị cho là bất nhân, mà mục đích của hai việc hoàn toàn khác nhau .Vua chúa xưa có hai lối cai trị: lo cho dân là để xây dựng ; lo cho bản thân là hại đời, các vị vua quan ngày xưa muốn xây dựng đời như vua Nghiêu, Thuấn, Thần Nông biết chọn người để nhường ngôi, biết dạy dân trồng trọt, chăn nuôi là họ xây đời. Trái lại như Kiệt, Trụ và những kẻ lạm dụng quyền thế mà chiếm đoạt tài vật của người khác là những kẻ hại đời .
    Còn khoảng trống giữa trời và đất là không khí. Lão Tử mượn cái óng bể để miêu tả sự cần thiết lắm trong cuộc sống của vạn vật,nó luôn hiển hiện và bao quanh để cung cấp sự sống cho chúng ta thế mà chỉ vì lợi ích cá nhân mà ta đang làm ô nhiễm nó. Vậy chúng ta có bất nhân không ? . Ta thấy có một số Vua, quan đã lợi dụng sinh mạng và tài sản của nhiều người để phục vụ cho tham vọng của họ, đã mấy ngàn năm qua mà hầu như người đời vẫn không thấy xót xa và hiện nay đang có nhiều người cố kéo dài nhiệm kỳ đến mười mấy – hai mươi năm để củng cố quyền lực,địa vị và tài sản .Họ có phải là thánh nhân bất nhân không ?.

    CHƯƠNG 6
    Cốc thần bất tử thị vị huyền tẫn. Huyền tẫn chi môn thị vị thiên địa căn. Miên miên nhược tồn dụng chi bất cần.
    DỊCH NGHĨA
    Thần hang không chết nên gọi huyền tẫn. Cửa của huyền tẫn là gốc rễ của trời đất. Dằng dặc nhưng còn hoài, dùng mãi mà không hết.
    DIỄN GIẢI
    Thần hang còn mãi vì nó bằng đá nên không dễ bị hư, mà công dụng thì vô cùng màu nhiệm nên được gọi là huyền tẫn . Sao được gọi là gốc rễ của trời đất? Xin thưa: Vì muốn có vạn vật sinh sống nên Tạo hóa mới làm nên trời đất (tuy trời đất có trước rồi vạn vật mới có sau, nhưng vì muốn có vạn vật nên mới làm ra trời đất). Vì vậy mà Lão Tử gọi vạn vật là gốc rễ của trời đất .
    Tạo hóa sinh ra vạn vật, hết lớp này đến lớp khác, nên dùng hoài mà không hết. Vì vậy, mọi người, nhất là những bậc thánh nhân biết nương vào đạo mà sống, mà hành động thì ắt sẽ được yên ổn và bền lâu.( dùng mãi mà không hết)

    CHƯƠNG 7
    Thiên trường địa cửu. Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu dã dĩ kỳ bất tự sinh cố năng trường sinh. Thị dĩ thánh nhân hậu kỳ thân nhi thân tiên ngoại kỳ thân nhi thân tồn. Phí dĩ kỳ vô tư da. Cố năng thành kỳ tư.

    DỊCH NGHĨA
    Trời dài đất lâu. Trời đất sở dĩ được dài lâu là vì không sống cho riêng mình nên mới dài lâu như vậy. Cho nên Thánh nhân để thân ra sau, mà thân được ở trước, để thân ra ngoài, mà thân được còn. Chi phí tất cả không phải cho việc tư mà thành được việc tư.

    DIỄN GIẢI
    Ta biết trời đất đã có từ lâu (theo Martel đã đi khảo sát ở khu Babeton thì đá ở vùng này có tuổi thọ là 3700 triệu năm ,có những tài liệu khác cho rằng : Trái đất nầy đã có trên 14 tỹ năm). Sở dĩ trời đất sống lâu như thế là vì trời đất sống cho vạn vật chứ không riêng cho mình . Con người mà muốn sống lâu thì phải thể hiện Đạo Đức như: Nghiêu, Thuấn, nếu ta là dân thì thực thi Đạo Đức như chúa Jesu xả thân cứu thế, như thánh Gandhi kiên trì bất bạo động, như Washinhton nghiên cứu và lập nên đường lối cộng hòa, và sau đó nhân loại đều thấy quyền dân chủ và sự bình đẳng không thể thiếu trong cuộc sống loài người mà lần lần cả thế giới có được quyền dân chủ : Mọi người luôn được đối xữ bình đẵng .
    Cho nên Thánh nhân (thánh nhân ở đây có hai dạng. Thánh nhân bất nhân ghi ở chương 5 là người được vua phong để làm tay chân mà bóc lột dân chúng, còn thánh nhân ghi ở chương 7 là thánh nhân do dân chúng phong tặng) luôn đứng sau mọi người khi hưởng thụ, luôn đứng ngoài các cuộc tranh đoạt danh, quyền .
    Chia phần tài sản của mình cho việc chung mà thành được việc riêng. (Ông Alfred Bernhard Nobel là một điển hình).

    CHƯƠNG 8
    Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh. Xử chúng nhân chi sở ố. Cố kỉ vu đạo. Cư thiện địa. Tâm thiện uyên. Dữ thiện nhân, Ngôn thiện tín. Chánh thiện trị. Sự thiện năng. Động thiện thời. Phù nhi bất tranh. Cố vô vưu.
    DỊCH NGHĨA
    Người hiền lành bậc cao ví như nước. Nước hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh. Ở nơi mà người người đều ghét nên gần với Đạo. Cư ngụ thì chọn chỗ thấp. Tấm lòng thì sâu lắng. Xử thế thì hay dùng đến lòng nhân. Nói lời thì đáng tin cậy. Sửa trị thì hay mong được yên bình. Việc làm thì hợp với khả năng. Hành động thì hợp với thời buổi. Ôi ! vì không tranh giành nên không hay lầm lỗi.

    DIỄN GIẢI
    Người thiện bậc cao luôn như nước ,luôn làm lợi cho vạn vât, mà không tranh giành với ai . Nói đến tranh giành thì hầu như những vật ấy chưa hẳn là sở hữu của ta. Tranh giành nhỏ nhất cũng gây nên mất lòng nhau, lớn hơn chút nữa gây nên ẩu đả, tranh khéo khôn, tranh địa vị đưa đến sự hãm hại ngầm, tranh tài lợi đưa đến đâm chém, tù tội, tranh ngôi vị đưa đến đao binh, tranh tín ngưỡng đưa đến chiến tranh liên quốc gia. Thế nên Lão Tử khuyên ta không nên tranh giành, người không tranh giành luôn xem ngôi vị, bạc vàng là những thứ làm điên đảo lòng người khi đang sống, mà đến khi chết đi thì không mang theo được. Những kẻ luôn tranh giành như Thành Cát Tư Hãn, Hisler, Tần Thủy Hoàng có được bao nhiêu người kính trọng, trái lại chúa Jesu, Phật Thích Ca, v.v… lại được kính trọng, tôn thờ.Vậy ta nên chọn cách nào cho phù hợp với đường lối yêu thương mà đấng Tạo hóa đã dày công tạo dựng và ký gửi đến chúng ta thông qua Đạo Đức kinh mà Lão Tử đã đã ghi lại.

    CHƯƠNG 9
    Trì nhi doanh chi bất như kỳ dĩ. Sủy nhi duệ chi bất khả trường bảo. Kim ngọc mãn đường mạc chi năng thủ. Phú quý nhi kiêu tự di kỳ cữu. Công toại thân thoái thiên chi đạo.
    DỊCH NGHĨA
    Kềm giữ cái chậu đầy (nước) không bằng thôi đi. Dụng vật sắc bén không bén được lâu. Vàng bạc đầy nhà khó mà giữ nổi. Giàu mà kiêu căng tự dời họa ưu. Nên việc lui thân đó là Đạo Trời.

    DIỄN GIẢI
    Bốn điều trên đối với người khác tuy khó nhưng họ vẫn luôn cố ôm giữ. Nhưng đối với Lão Tử và theo đạo Trời thì nên để lại cho mọi người giữ mà dùng thì đúng với đạo hơn, vì trời đất tạo ra vạn vật mà có sở hữu vật nào đâu, để mọi người và mọi vật hưởng và có nhận một chút hoa hồng nào đâu?
    Vậy lời của Lão Tử là ông nói đúng theo Đạo Trời và cũng đúng với Thánh nhân, nếu chúng ta cũng làm vậy có thể trở thành Thánh nhân vậy.

    CHƯƠNG 10
    Tãi doanh phách bão nhất, năng vô ly hồ? Chuyên khí chí nhu, năng anh nhi hồ? Địch trừ huyền lãm, năng vô tỳ hồ? Ái dân trị quốc, năng vô vi hồ. Thiên môn khai hợp, năng vi thư hồ? Minh bạch tứ đạt, năng vô trí hồ? Sanh chi súc chi. Sanh nhi bất hữu. Vi nhi bất thị. Trưởng nhi bất tể. Thị vị huyền đức.
    DỊCH NGHĨA
    Chuyển tải cho hồn và phách hiệp làm một, đặng chăng? Luyện khí đến độ mền yếu như trẻ sơ sinh, đặng chăng? Loại bỏ những ước mơ làm sự huyền diệu, đặng chăng? Cửa trời đóng, mở, làm như con mái đặng chăng? Thương dân trị nước, nghĩ ra cách làm cho dân an lạc, đặng chăng? Làm sáng tỏ bốn phương mà không dùng trí xảo, đặng chăng? Sinh ra đó, nuôi dưỡng đó mà không chiếm hữu, làm mà không cậy công, đứng đầu mà không làm chủ, đó gọi là Đức lớn.

    DIỄN GIẢI
    Hồn và phách là hai phần quan trọng nhất trong một con người, tuy hai phần này hoàn toàn vô hình nhưng nó chi phối mọi hành động của con người. Phần hồn là phần được Tạo hóa ban phát, nó có trách nhiệm nhắc nhở cho một sinh linh tiến hóa theo đúng đường lối yêu thương của Đạo, nhưng Phách là phần tinh túy nhất mà cơ thể tạo nên, đóng vai trò là một phụ tá nhưng lại đồng quyền sai khiến mọi ý tưỡng và hành động của một con người. Hai phần này được ví như đôi vợ chồng không thể thiếu được trong một cơ thể đang sống. Phách như người vợ, cảm nhận trực tiếp mọi thiếu, đủ cơm, áo mọi nhu cầu, mọi sự cần bổ sung, nhưng Phách lại ham muốn nhiều mà ưa nhàn hạ, thế nên giữa Hồn và Phách luôn đối kháng nhau. Hồn muốn hướng thượng để tiến hóa vì có một mơ hồ cảm nhận rằng mình đang có một sứ mạng ,nhưng phách thì luôn thực dụng. luôn múôn được” rạng rỡ tông môn” mà lười việc học ,việc làm , thế nên họ khó đến ngưỡng cửa của Đạo Đức là vậy. Vì thế có một số tôn giáo buộc những người khi đi tu thì không được có vợ, vì trong Khổng học có từ “Phụ nhân nan hóa” Chỉ vì muốn đạt đến “rạng rở tông môn” nên Phách luôn xúi Hồn nên nghĩ đến việc hưởng thụ ở hiện kiếp mà quên rằng thực thi đạo đức mới là cách tiến hóa .
    Lão Tử, chỉ dẫn chúng ta là hãy làm cho Hồn và Phách hợp thành một phía cho dù tốt hay xấu (như câu ví… đồng vợ đồng chồng…). Vì Toán học chứng minh: cộng với cộng bằng cộng, trừ với trừ bằng cộng, chỉ có trừ với cộng mới bằng trừ mà thôi. Vì Hồn và Phách đồng làm tội thì đến lúc nào đó sẽ dễ quay đầu là bờ (Phật ngôn) vì ở một phía nên không có sự chằng kéo. Còn như ta đã hiểu về Đạo là yêu thương thì chúng ta thể hiện thật đúng để xứng đáng với quả vị thánh nhân như nhiều vĩ nhân mà chúng ta đã biết. Muốn vậy chúng ta phải làm sao? Xin thưa: Trước tiên nên biến sự ước muốn của mình giống như ước muốn của trẻ sơ sinh, chỉ cần được no và ấm, xem vàng, bạc, kim cương cũng như đất hay đá tức là con người chỉ cần ấm no để sống mà phục vụ cho trọn kiếp con người,chỉ cần no ấm như trẻ sơ sinh thì sẽ trở thành thánh nhân chỉ trong một kiếp. Pháp bảo đàn kinh có câu “bản lai vô nhất vật” ý là ngoài tâm đạo ra xưa nay Huệ Năng không thấy có vật nào quý cả. Kinh Kim cang có đoạn: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” ý là đừng do thấy, nghe, sờ, ngửi, nếm. Đừng dựa vào đó mà sinh Tâm. Lời tuy có khác nhưng ý vẫn là một.
    Vậy thì tâm của trẻ sơ sinh là tâm không phân biệt quý – tiện. Còn tâm của người lớn như chúng ta sở dĩ không được vững tại vì: Ta đang quý và tranh giành những thứ mà mọi người đều quý .Nên những thánh nhân như Tô Hiến Thành, như Bao Công như Mạc Đĩnh Chi là những người lớn mà tâm của trẻ sơ sinh.
    “Loại bỏ ước mơ làm sự huyền diệu” đặng chăng? Xưa có nhiều người quan niệm rằng Thánh nhân phải làm được những việc như biến đá thành vàng, rải đậu thành binh, sống mãi không già, đó là những ước mơ mà không ai có thể làm được là vì ước mơ hết sức hảo huyền.( cũng mong được giàu của tiền mà thôi)
    “Người thương dân trị nước” thì phải dùng đến Vô vi pháp nghĩa là: Phải cố nghĩ ra những cách làm cho dân chúng an cư lạc nghiệp. Kiểm soát quan lại đừng để họ hiếp dân, mang lại sự ấm no hạnh phúc cho dân chúng, có được như vậy mới là thương dân trị nước vậy.
    “Cửa trời khép mở”: Ta thấy quản gia trông coi cửa nhà chủ, thì vua chúa trông coi cửa nhà trời, là người thay trời, là lãnh đạo thì phải có sự bao dung, mềm mỏng như nữ giới, vì thế sự trị nước mới vững bền.( làm như con mái) .
    Đến đây ta thấy rằng Lão Tử là người “am hiểu tất cả”, mà phải làm như người không biết gì, ông cố che đậy mà không hề giải bày với ai, thậm chí không thu nhận bất cứ ai làm học trò để truyền lại kiến thức của mình. Đến khi gặp Doãn Hĩ Ông viết Đạo đức kinh để lại chỉ vì những lời này không thể nói được vào lúc ấy.Cái thời mà không ai dám nghĩ đến việc phê bình hay phán xét vua.
    Lão Tử cho ta biết: Chỉ có Đạo sinh và nuôi vạn vật mà không chiếm hữu, không kể công cũng không làm chủ. Những mục tiêu do con người hướng tới để phấn đấu như: độc lập, dân chủ, cộng hòa, tự do, bình đẳng, xóa ách nô lệ v.v… Thực hiện các điều ấy cho dân hưởng mới đúng với Đạo trời, mới đươc gọi là huyền đức (đức lớn)

    CHƯƠNG 11
    Tam thập phức cộng nhất cốc, đương kỳ vô hữu xa chi dụng. Nhiên thực dĩ vi khí đương kỳ vô hữu khí chi dụng. Tạc hộ dũ dĩ vi thất , đương kỳ vô hữu thất chi dụng. Cố, hữu chi dĩ vi lợi, vô chi dĩ vi dụng.

    DỊCH NGHĨA

    Ba mươi cái nan hoa hợp lại một bầu, nhờ có cái lỗ “trống” mới có cái chỗ dùng của bánh xe. Nung đất để làm chén bát, nhờ cái lõm “trống” mới dùng đựng cơm ,nước được. Làm nhà cửa buồng the, nhờ khoảng “trống” không mới có cái dụng của nhà cửa, buồng the. Bởi vậy, lấy cái có làm cái lợi, lấy cái “trống” không để làm cái dụng.

    DIỄN GIẢI
    Cái lổ của bánh xe, cái lõm của chén bát, cái khoãng trống của buồng the là những thứ hữu dụng từ cái “không”,vì cái dụng là Vô nên mới tạo ra cái thể là Hữu. Như vậy Vô (ý tưỡng cũng là cái Dụng có trước) sau đó Hữu vật thể ấy mới có sau , và cũng vì người đời cứ bão rằng :Vô là không, mà quên bẳng đi: Vô là sự muốn có ( phần trống không của cái nhà (nội thất) nên mới gia công làm cái Nhà là Hữu).(nếu ông viết là Vi Vô như Vi bằng (làm bằng chứng) Vi nạn (làm khó người) mà ông lại viết Vô vi ,có thể là ông muốn mọi người hãy cứ hiểu là không làm gì ( ẩn ý nây) đễ cứu quyển Đạo Đức Kinh và Chủ trương Dân chủ, có thể ông nghĩ : sẽ có một ngày nhân thế sẽ hiểu được ý ông nếu quyễn sách còn
    “Vô”: ngoài cái nghĩa ý tưỡng là không, mà là chưa nữa . Khi Lão Tử viết Đạo đức kinh thì chưa có quyền dân chủ, quyền bình đẳng, chưa có xe hơi, máy bay, chưa có rất nhiều thứ từ vật dụng cho đến những đường lối chính trị đúng đắn như ngày nay, Tất cả những thứ được gọi là tiến bộ trên mọi mặt đều phát khởi từ cái Vô vi ấy, vì ông không thể nói rỏ hơn ,( trong thời Quân chủ chuyên chế). Ngày nay đang còn nhiều thứ đang cần mà chưa có, đang chờ chúng ta .Vậy ta đừng nên hiểu :Vô vi là không làm gì hoặc phải thuận theo tự nhiên ? ,
    Tạo hóa vì muốn có vạn loại chung sống trong thanh bình nên mới tạo ra trời đất đã mười mấy tỹ năm, đến khi chúng ta có thì đất trời đã sẳn từ lâu , nên ta cho đó là Tự nhiên, rồi cậy trí khôn và quyền thế sẳn có mà lừa người rằng: trời đã ban riêng cho ta để rồi chính ta đã làm cho mọi thứ đão lộn ,tước đoạt mọi quyền kể cã quyền đươc sống của con người (mất hết công bằng) Vì thế ,nên Kinh Phật Đại thừa ,Đạo Đức kinh nếu không khéo dùng một lối viết ẫn nghĩa (khó giãi) thì kinh sách đã bị đốt sạch từ lâu bởi Vua chúa họ muốn loại bỏ các mầm cãn trỡ trong lúc họ thống trị .

    CHƯƠNG 12
    Ngũ sắc lịnh nhân mục manh. Ngã âm lịnh nhân nhĩ lung. Ngũ vị lịnh nhân khẩu sảng. Trì sính điền liệp lịnh nhân tâm phát cuồng. Nan đắc chi hóa, lịnh nhân hành phừơng. Thị dĩ thánh nhân vị phúc bất vị mục. Cố khử bỉ thủ thử.

    DỊCH NGHĨA
    Năm màu khiến người tối mắt, năm âm khiến người điếc tai. Năm vị khiến người tê lưỡi. Xe ngựa săn bắn, khiến lòng người hóa cuồng. Những của cải khó được khiến nhiều người gặp tai họa. Vì vậy Thánh nhân, vì bụng không vì mắt. Cho nên bỏ cái kia, lấy cái này.

    DIỄN GIẢI
    Năm màu, ý nói là của cải vật chất; năm âm là hát hò, ca xướng, lời nịnh hót, lời thêu dệt; năm vị là ăn nhậu tiệc tùng món ngon vật lạ, sơn hào hải vị. Xe ngựa săn bắn lấy bắn giết làm niềm vui. Những thứ của quý khó được như vàng bạc, châu báu khiến người làm hại lẫn nhau: nhóm từ tối mắt, điếc tai, tê lưỡi, hóa
    cuồng, thì còn đâu phân biệt được phải quấy (Ta thấy ,ngày xưa người ta giết nhau để đoạt ngôi vua là vì cái gì: thương yêu dân hay chuộng cao sang ? .)
    Cho nên Thánh nhân (người cầm quyền tốt) nên ăn chỉ cần no, mặc chỉ cần ấm (không cầu kỳ se sua). Thú vui rất tao nhã (không cần đàn hát, tiệc tùng, rượu chè, cũng không phải săn bắn, vì muông thú bị bắn chết đễ làm niềm vui cho chúng ta là một sự bất công .Chúng ta nên bỏ cái sai lầm, tin vào Đạo Đức để tiến hóa .

    CHƯƠNG 13
    Sủng nhục nhược kinh. Quý, đại hoạn nhược thân. Hà vị sủng nhục nhược kinh? Sủng vi thượng nhục vi hạ. Đắc chi nhược kinh, thất chi nhược kinh. Thị vị sủng nhục nhược kinh.
    Hà vị quý, đại hoạn nhược thân? Ngô sở dĩ hữu đại hoạn dã, vi ngô hữu thân. Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn. Cố, quý dĩ thân vi thiên hạ, nhược khả ký thiên hạ. Ái dĩ thân vi thiên hạ nhược khả thác thiên hạ.

    DỊCH NGHĨA
    Vinh hay nhục đều đáng sợ, đựơc quý trọng hay hoạn nạn đều do ta có thân. Tại sao vinh hay nhục đều đáng sợ? Vì vinh ở trên thì nhục ở dưới. Được thì cũng sợ mà mất thì cũng sợ. Vì vậy vinh hay nhục đều đáng sợ. Tại sao gọi quý hay hoạn đều vì ta có thân? Là vì ta có lo lớn do ta có thân, nếu không có thân ta, ta có gì đáng lo! Vậy kẻ nào biết quý thân vì thiên hạ, nên giao thiên hạ cho họ được. Kẻ nào biết thương thân vì thiên hạ, nên gửi gắm thiên hạ cho họ được.

    DIỄN GIẢI
    “Sủng” là được yêu chuộng, “nhục” là bị khinh rẻ. Hai điều này có khi không phải do ai đó tự làm ra. Một đứa trẻ sơ sinh tại một nhà quyền quý thì được “sủng”, trái lại nếu sinh trong gia đình dân dã thì bị “nhục” việc này xảy ra ở khắp mọi nơi: Riêng ở Ấn Độ, con người được chia ra làm 4 cấp: Cấp 1 – Bà La Môn (Brahmana) sinh ra ở miệng Phạm Thiên, là các tu sĩ chuyên nói lời của Phật. Cấp 2 – Sát đế lợi (Ksatriya) những chính trị, vua, quan được sinh ở hai tay Phạm Thiên. Cấp 3 – Phệ Xà (Vaisya) những nông, công, thương được sinh ra ở đùi của Phạm Thiên. Cấp 4 – Thủ Đà (Sudra) những tạp dịch sinh ra ở bàn chân Phạm Thiên. Tuy nhiên trong số môn sinh của Siddhatta (Sỉ đạt ta) lại có Sunita (Tu ni đà) lại ở cấp 4 (Thủ đà,) làm nghề gánh phân. Việc thu nhận Tu Ni Đà làm đệ tử là Thích Ca muốn xóa bỏ sự phân biệt giai cấp của xã hội Ấn Độ, nhưng ông đã bị sự phản kháng gay gắt của các vua chúa thời ấy. Đây có thể là cơ hội mà Hồi Giáo phát triển tại đất nước mà Ấn Độ giáo ngự trị .Lại nữa, ở châu Âu cũng chẳng khác gì. Giới quý tộc cũng được ưu tiên thụ hưởng nhiều quyền lợi hết sức phi lý nhưng xã hội thời ấy mặc nhiên công nhận một cách bình thường. Xin trở lại việc vinh nhục. Khi đang vinh họ lo kẻ khác mạnh hơn đoạt mất nên sợ. Còn kẻ nhục thì đang ở dưới cũng lo sợ những kẻ trên sẽ chà đạp thêm. Vì thất thì sợ bị đói, còn nếu đắc thì sợ bị kẻ trên chiếm đoạt vì thế vinh hay nhục đều phải bị sợ.!
    Người mà nhiều lo sợ dĩ nhiên là vì lo cho thân . Nếu ta không có thân thì không phải lo gì?
    Đây tôi xin phân tách việc Ái và Quý thân vì thiên hạ: Cậu bé Abraham Lincoln người Mĩ, rất bức xúc trước sự hành hạ đối với người nô lệ, cậu bé cố tìm hiểu xem tại sao mọi người không đối xử bình đẳng với nhau, trong khi những người nô lệ kia chỉ khác với cậu là màu da, ngoài ra họ rất khéo léo trong mọi công việc, thế mà họ không được xem là con người, ý tưởng giãi ách nô lệ cứ đeo đẳng theo suốt thời thơ ấu của cậu. Mãi đến một hôm cậu chợt nhận ra: Nếu ta là tổng thống nước Mĩ thì ý tưởng này mới thực hiện được. Nuôi ý chí ấy cậu bé cố gắng học tập, phấn đấu không mệt mỏi, đến 59 tuổi, thì nước Mĩ mới có vị tổng thống tên Abraham Lincoln được đắc cử thế là giai đoạn “Vô vi” kéo dài hơn 50 năm, khi mang ra thực hiện “Hữu vi” thì gặp quá nhiều sự chống đối, vì trong Lưỡng viện Quốc hội và toàn thể công dân Mỹ không ai chấp nhận một sự thiệt hại quá to lớn, vì nô lệ là tài sản, là công cụ được mua về. Thế rồi bằng mọi cách phấn đấu, Sắc luật xóa bỏ ách nô lệ của nước Mĩ được ra đời và không lâu sau đó tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: ông Abraham Lincoln bị ám sát (tính đến nay ông đã trên 200 tuổi và hiện ông còn sống trong lòng thế nhân). Vậy khi ông quyết định thực hiện bằng được sắc lệnh trên, ông đã biết mình sẽ mất mạng vì việc làm quá cao thượng là mang bình đẳng của Đạo đến với loài người mà mấy ngàn năm chưa ai làm được, vã lại mọi công dân Mĩ ai cũng có quyền sở hữu vũ khí thì việc ám sát Ông không sớm thì muộn sẽ xảy ra ,nhưng Ông vẫn cương quyết thực hiện.(Trước đó 3 năm, Ông đã bị ám sát hụt một lần rồi) Một người quý thiên hạ hơn cã mạng sống của mình ,thật đáng lãnh đạo đất nước .
    Lão Tử đề cập đến vinh hay nhục, mà điểm đáng nói không phải là lúc sinh ra mà là lúc chết đi, sau một quá trình sống, ăn của đời mấy mươi tấn lương thực, mặc của đời mấy tạ vải vóc và đã làm được bao nhiêu việc để có thể thăng hay đọa trong kiếp người.Nếu ta thấy việc làm của mình mang lại lợi ích cho đời được người đời ngầm biết ơn, còn tốt hơn là muôn lời vạn tuế tung hô trước mặt kẻ ác như Trụ Vương Sở dĩ Lão Tử không thể nói rỏ ràng vì ý tưởng và lời nói đúng không thể dùng được với một tập thể say !!! Thậm chí đến ông Phan Bội Châu (thế kỷ 19) nói với Phan Châu Trinh :Không có Vua thì mọi việc đều không thuận (Tư tưởng ấy 100 năm trước đay khoãng 95% dân chúng Việt Nam đều nghĩ vậy)
    Đến nay ta mới thấy cách chọn ứng cử viên mà Lão Tử mách với chúng ta là: Ai biết quý thân, thương thân vì thiên hạ, có thể ký thác thiên hạ cho họ được .

    CHƯƠNG 14
    Thị chi bất kiến danh viết “di”. Thính chi bất văn danh viết “hi”. Bác chi bất đắc danh viết “vi”. Thử tam giả bất khả trí cật. Cố, hổn nhi vi nhất. Kỳ thượng bất kiểu kỳ hạ bất muội. Thằng thằng bất khả danh. Phục quy vu vô vật. Thị vị vô trạng chi trạng vô vật chi tượng. Thị vị hốt hoảng. Nghinh chi bất kiến kỳ thủ. Tùy chi bất kiến kỳ hậu. Chấp cố chi đạo dĩ ngự kim chi hữu. Năng tri cổ thủy. Thị vị đạo kỷ.

    DỊCH NGHĨA
    Xem mà không thấy gọi là “di”. Lóng mà không nghe gọi là “hi”. Bắt mà không nắm được gọi là “vi”. Ba thứ ấy không phân ra được vì nó hỗn hợp làm một. Trên nó thì không sáng. Dưới nó thì không tối. Dài dằng dặc mà không thể hình dung. Rồi lại trở về chỗ không có vật. Thế gọi là cái hình trạng không có hình trạng. Không có hình thù gì nên không hình tượng. Nên gọi là như có như không. Đón nó thì không thấy được đầu. Theo nó thì không thấy được đuôi. Giữ cái Đạo xưa mà trị cái có hiện nay. Biết được cái đầu mối của xưa, ấy là nắm được giềng mối của Đạo.

    DIỄN GIẢI
    Xem thì không thấy, lóng thì không nghe, bắt thì không nắm được, nó là một hỗn hợp, không thể phân tách ra được. Khi nó chuyển thì thấy là có, khi nó dừng thì thấy là không. Theo diễn tả này thì Lão Tử đang nói đến” khí.” Chương 42 Lão Tử viết: Đạo sinh Nhất (ấy là Nhất khí) đó là không khí như chúng ta thấy và biết, vì trong không khí có chứa thật nhiều tạp chất (Lão Tử có đề cập ở chương 11). Nhưng trong” nhất khí” còn chứa một chất đặc biệt của Tạo hóa đó là “ khí chất yêu thương.” Từ sự yêu thương này mà vạn loại mới phát sinh. Lại trở về nơi không có vật: Ngài gọi nó trở về vì không khí nơi đây bị đưa đi nơi khác (gọi là gió) thì lập tức không khí từ nơi khác được ập vào chỗ ấy.
    Biết được trong khí ấy có “khí chất yêu thương”mà thực hiện bằng ý tưởng ,lời nói và việc làm của mình để phục vụ cho yêu thương và công bằng ấy thì mới là đúng với Đạo vậy.

    CHƯƠNG 15
    Cổ chi thiện vi đạo giả. Vi diệu huyền thông. Thâm bất khả thức. Phù duy bất khả thức. Cố cưỡng vi chi dung. Dự hề nhược đông thiệp xuyên. Do hề nhược úy tứ lân. Nghiễm hề kỳ nhược khách, Hoán hề nhược băng chi tương thích. Độn hề kỳ nhược phác. Khoáng hề kỳ nhược cốc. Hỗn hề kỳ nhược trọc. Thục năng trọc dĩ . Tĩnh chi từ thanh. Thục năng an dĩ cửu. Động chi từ sinh. Bảo thử đạo giả bất dục doanh phù duy bất doanh. Cố năng tế nhi bất thành.

    DỊCH NGHĨA
    Người khéo (làm) Đạo thời xưa, tinh tế nhiệm mầu, sâu (kín) không thể lường. Bởi vì (người khác) không thể hiểu được nên miễn cưỡng mô tả như sau: Thận trọng như người qua sông mùa đông; lấm lét mắt nhìn bốn phía; nghiêm nghị như người khách; rã rời như băng tan; mộc mạc như gỗ chưa đẽo gọt; trống không như hang núi; lẫn lộn dường như nước đục. Ai muốn theo thì phải tịnh. Nhờ yên tịnh mà đục thành trong. Nhờ an nhàn, bền bỉ động não từ từ sinh ra. Người làm Đạo ấy không muốn nói đầy đủ. Vì không nói đủ nên dễ che giấu. Cho nên ai muốn làm (khó) gì cũng không được.

    DIỄN GIẢI
    Người hiểu và làm Đạo ngày xưa phải khéo léo lắm, bởi bao nhiêu sự rình rập chung quanh, vì thế mà họ toàn nói những điều vi diệu huyền thâm đến khó mà biết được họ phải tự buộc mình phải hết sức thận trọng, được mô tả như sau: Thận trọng từng bước, mắt luôn ngó nhìn tứ phía như người qua sông vào mùa đông (vùng Lão Tử ở 40 độ vĩ Bắc) mùa đông nước đóng thành băng nên hành khách phải đi bộ qua sông, không cẩn thận dò dẫm rất dễ sụp băng ướt cả người và hành lý, nghiêm nghị dò xét người đối diện xem họ là ai? Tiếp xúc mình với mục đích gì? Tại sao? Bây giờ quý vị đã hiểu: làm Đạo là làm cái việc chống đối bất công, mục đích của Đạo là yêu thương vạn loại và bình đẳng nhân loại, Làm Đạo là muốn đân có được các quyền ấy. Vậy những điểm cấm kị của các vua chúa ai lại dám chen vào. Vậy nếu có ai hỏi: tu để làm gì? Để thanh lọc thân tâm, tránh xa tội lỗi, khi chết sẽ được siêu sinh v.v… đoạn này nghĩa là đang dò xét, ông nói nghiêm nghị như khách lạ vì luôn phải dè chừng lời nói sợ người gắn ghép vào tội chống đối là mất mạng như chơi.
    Nếu có người đến xin vào tu thì phải dò xét thật cẩn thận và chỉ dạy cách tập tĩnh tọa, lắng cho lòng thanh sạch. Khởi đầu là tam qui, kế đến ngũ giới, kế đến tứ đế, kế đến bát chánh đạo. Vì thế có khi cả vài nghìn người tu học họ chỉ học được đến tránh tội và tạo phước mà thôi. Ngoài ra đối với những người có căn cơ cao thâm thì được dạy thêm cách động não để suy xét một đề tài nào đó trong vô số các đề tài được gọi là “thoại đầu” hoặc dạy việc khán “ công án”đó là cách tu của Đại thừa Phật giáo. Còn Lão Tử thì luôn biết rằng: giới đương quyền luôn muốn có thêm nhiều quyền lực hơn nữa để họ chiếm đoạt tất cả những thứ mà họ muốn càng được nhiều càng tốt. Vì thế mà những thứ luật của vua chúa luôn đi ngược với Đạo là bình đẳng và bác ái. Còn những người tu là những tập thể tay không thì làm sao có thể đối đầu với lực lượng vua chúa đương quyền.
    Theo sự tiến hóa mà Lão Tử cùng thật nhiều giới khoa học và loài người hiện nay xác nhận là chúng ta do sự tiến hóa mà có được hình thể và khối óc như hiện nay ít ra cũng đã vài trăm ngàn năm rồi mà tại sao chúng ta chưa tiến đến quả vị Phật, Tiên , Thần, Thánh mà vẫn là những con người mang nhiều tội lỗi như ngày nay? Xin thưa: Vì chúng ta chỉ lấy sự rạng rỡ tông môn làm mục tiêu để phấn đấu. Cái mục tiêu không phải của những người dốt nát cùng đinh mà của những người trí tuệ cao minh, một bước muốn tiến tới cao sang danh vọng. Chỉ với hạng người này mới là những người gây tội lớn nhất… Vì muốn nhanh chóng vượt lên mà sẵn sàng làm mọi thứ để tâng bốc cấp trên, cung phụng đủ mọi thứ để lấy lòng họ, rồi quay lại vơ vét của dân chúng, của cấp dưới, hoặc dùng nhiều cách khác mà không màng đến sự đau khổ của kẻ khác miễn sao cho mình được hiển vinh. Đó chỉ là việc của (một ông quan) mà đã gây hệ lụy cho thật nhiều dân chúng dưới quyền của ông
    Vì vậy việc giảng Đạo ngày xưa (thời quân chủ) có khó không? Có phải họ đang bị rình rập hay không? Một minh chứng rõ ràng nhất là: Chúa Jesu sau 49 ngày ở núi Sinai, sau khi suy tính thiệt hơn ông đã quyết định chọn cách cứu thế bằng chính sinh mạng của mình. Ngài cương quyết giảng đúng đạo lí mà đức Chúa trời hằng ban phát cho nhân loại, dân chúng ngưỡng mộ và theo Ngài, thế là ngài bị bọn ác bằng mọi cách gán ghép tội và giết Ngài bằng nhục hình là đóng đinh Ngài trên thánh giá cùng với hai tên trộm cướp. Biết đâu trong số những kẻ lớn tiếng đòi đóng đinh Chúa Jesu lại chính là chúng ta? Vì thái độ lưng chừng không quyết, vì sự khù khờ cả tin vào vua chúa và số đông, hay vì ta muốn lập công với chính quyền thời ấy???
    Lão Tử nói: “Biết thì không nói và nói thì không biết” mà hôm nay chính chúng ta đang nói Đạo, trao đổi việc đạo , vì sao? Xin thưa vì nay là tam kỳ, thời kỳ mà không biết bao nhiêu người đã đổ máu, tốn nhiều sinh mạng mới giành lại được để hôm nay ta mới có cái quyền làm người, quyền ứng cử, bầu cử, ngôn luận, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền góp ý xây dựng đất nước, và ngày xưa (thời quân chủ ) nếu ai cả gan đòi hoặc nghị luận các khoảng nêu trên thì bị phạm tội phản loạn bị án tử là cái chắc .
    Vì vậy quí vị có thể hiểu được vì sao mà Đạo đức kinh cùng các kinh Đại Thừa Phật Giáo được gọi là:Thậm thâm vi diệu vậy .

    CHƯƠNG 16
    Chí hư cực thủ tịnh đốc. Vạn vật tịnh tác. Ngô dĩ quan phục. Phù vật vân vân các phục quy kỳ căn. Quy căn viết “tịnh”. Thị vị viết “phục mạng”. Phục mạng viết “thường”. Tri thường viết “minh”. Bất tri thường vọng tác hung. Tri thường dung. Dung nãi công. Công nãi vương. Vương nãi thiên. Thiên nãi đạo. Đạo nãi cửu. Một thân bất đãi.

    DỊCH NGHĨA

    Chỗ cuối của “hư vô”, nơi giữ được cái rất “tịnh”, vạn vật được sinh, hóa tại đây, ta thấy chúng “trở về” đây. Cây cỏ đầy rẫy trở về tại gốc rễ. Về gốc rễ được gọi là “tịnh” cũng gọi là “phục mạng” (tất cả mọi sinh vật luôn sinh rồi lại tử là mỗi lần trở về nơi đã sinh ra và “phục mạng” Việc nầy luôn xãy ra nên gọi là “thường” (lập đi lập lại mãi mãi). Biết được cái “thường” là thông minh. Không biết “thường” nên hay làm bậy gây ra họa dữ. Biết thường (còn mãi) nên hay bao dung (tha thứ). Bao dung ra công bằng. Công bằng do bởi vua. Vua do bởi Trời. Trời do bởi Đạo. Đạo do bởi lâu dài. Biết được như vậy cả đời không họa tai.

    DIỄN GIẢI
    Chỗ cuối của “hư vô”là Tịnh, là nơi luận Công và Tội. Điểm này Lão Tử gọi là “phục mạng” cũng có ý là trở lại để báo cáo một chuyến công tác tại thế gian. Việc này nó tiếp nối xảy ra nên được gọi là thường xuyên, hãy cố nhận biết như vậy mới gọi là thông minh.
    Cũng có người cứ cho là khi sống phải hưởng thụ không cần biết đến phải quấy và khi chết là hết, vì nghĩ như vậy nên hay làm bậy dể sinh ra vạ dữ ngược lại người biết rõ về Đạo thì họ luôn biết rằng mọi người phải phấn đấu có thể bị lầm lỗi ,vì có dại mới nên khôn, nhiều lần tiến hoá mới thành người,
    Người hiểu Đạo họ hay bao dung, bao dung ở đây không có nghĩa là mặc cho họ gây tội mà ta làm ngơ, mà phải luận tội thật đầy đủ và sau khi họ biết hối cải sẽ được tha thứ. Đó mới thể hiện được sự công bằng.
    Người dễ có điều kiện mang lại sự công bằng cho dân chúng, người ấy là vua (đứng đầu ngành hành pháp). Vua thì nhận trách nhiệm của trời đất. Trời đất do Đạo sinh ra, Đạo là đường lối yêu thương do Tạo hóa lập nên để ban phát thật đồng đều cho vạn loại mới là Đạo vĩnh cữu. Vậy do đâu mà chúng ta hiểu? Ta phải tìm để hiểu, đọc để hiểu, thấy để hiểu, nghe để hiểu hoặc suy nghiệm để hiểu được và làm theo đúng như vậy thì cả đời không nguy.
    Xin trở lại vấn đề “phục mạng”, phục mạng có nghĩa là “trở lại báo cáo một công tác gì khi lãnh mạng ra đi”. Tôi xin ví dụ: Một cọng cỏ sau khi được sống nó phải có bổn phận phấn đấu với mọi thời tiết để sống, lưu truyền nòi giống, và hiến thân xác của mình để làm thức ăn cho trâu, bò, ngựa. Trâu bò ngựa ăn cỏ của trời đất để sống phải kéo cày, xe để trả nợ thực phẩm cho đất và phải hiến thân xác làm thức ăn cho người mà tiến hóa. Nay tôi xin trở lại việc “hiền dữ” giữa trâu và cọp (chương 2) con cọp vì quá dữ nên con người không buộc nó kéo cày nó được một kiếp nhàn hạ. Nhưng quý vị có biết chúng là loài sắp bị tuyệt chủng hay không? Tại sao? Có lẽ vì các hồn cần tiến hóa không chọn con đường làm chúa sơn lâm, tuy uy nghi, dũng mãnh, tâm trạng thật an nhàn, chẳng chút lo âu, suốt đời không bao giờ biết sợ là gì,sung sướng cã đời nhưng nói đến đường tiến hóa thì nó bị đóng chặt là vậy. Trong khi đó trâu bò tuy làm lụng vất vả mà lại thân thiện với con người nên mỗi năm được một linh hồn chọn cách vất vả và hiền lành và thân thiện này để tiến hóa. Tức là mỗi năm chúng sinh được một con. Vậy chúng ta có thể nhìn vào đó mà suy ngẫm. Đến đây tôi nói đến việc ăn và mặc của con người: Trung bình mỗi người tiêu thụ lương thực và thực phẩm 2 kg/ngày, nhân cho 65 tuổi đời, ta đã ăn đến 50 tấn. Mặc: 3kg/năm, nhân cho 65 năm bằng 195kg, ngoài ra còn dùng nhiều thứ khác mà trị giá có thể bằng hoặc hơn phần cơm và áo, như thế ta xét việc lao động của chúng ta có đủ để trả nợ này chưa? Nếu ta làm công hay nông thì có thừa trả nợ, nhưng nếu lười biếng hoặc trộm cắp thì cũng khó mà trụ lại kiếp người thì nói gì đến tiến hóa xa hơn.
    Con người là động vật cao cấp có khối óc để so sánh, suy luận và hãy nghĩ và làm đúng với lí của Đạo, ta đừng nghĩ chỉ có vua Kiệt, vua Trụ mới nghĩ bậy và làm bậy, mà trong chúng ta cũng có rất nhiều tội: tội không nhận biết: Đạo là yêu thương và bình đẳng , bằng lòng tiếp tay với kẻ tàn bạo làm điều thất đức ,tội tin sai: Ta tin là nếu phạm tội ta sẽ dùng nhiều tiền để xây đền thờ ,đúc nhiều tượng phật, nuôi nhiều tăng lữ, vì với số nhiều họ sẽ tụng kinh để cầu phước cho ta thì tội lỗi nào mà không được giải, chẳng những thoát tội mà còn thừa phước!!! Tin như thế là sai hoàn toàn. Vì sao? Vì Phật và Bồ tát được thờ phụng là do đã buông bỏ tham, sân, si.lẫn thân mạng Nếu họ nhận đồ cúng với lí do hối lộ thì họ đã tham, lập tức họ là tội, vậy một người tội này giúp một người tội kia có kết quả bao nhiêu phần trăm? Nếu muốn cúng với ý hối lộ ấy thì đi tìm đền thờ Bàng Hồng thời Tống hoặc Ngao Bái đời Thanh họ mới có khả năng nhận hối lộ. Đến đây ta mới biết chúng ta tin sai. Có khi hơn 2000 năm trước ta tin vào số đông kết tội Chúa Jesu mà ta là một thành viên trong số ấy, rồi một ngày nào đó biết đâu ta lại tin: nếu ta mang bom đi khủng bố sẽ được làm Thánh thần rồi ta cũng tin và làm chăng? , làm như thế là trái Đạo.
    Những kẻ chuyên giết người không thể sống ở nơi mà Đạo đã tạo ra bằng sự yêu thương và bình đẵng. Lai nữa sự thân thiện với con người cũng là điều quan trọng, không biết thân thiện thì làm sao có được yêu thương, mà không yêu thương thì đừng nói đến sự đối xữ bình đẵng vậy ,ta nên nghiệm xét thêm việc nầy.

  22. Lê Hòa Phongon 22 Apr 2012 at 4:29 am

    LỜI TỰ BẠCH

    Kính thưa quý chư tôn, thức giả, đọc giả.
    Những người tin, theo một tôn giáo nào đó trên thế gian này , đều có một đấng tối cao để tôn thờ, họ cũng phải tin theo những tín điều mà tôn giáo ấy quy định: Những Đấng như: đức Chúa Trời ,Đức Ala, Brahma phật, Civa phật, Chrisna phật, Thích Ca mâu ni Phật hay Cao Đài Ngọc đế v.v…Cũng có những người không theo tôn giáo nào không phải là họ chưa từng nghe ,biết nhưng vì những tín điều ấy chưa thuyết phục họ được Vì vậy mà họ chưa muốn trở thành Tín Hữu của Tôn giáo nào,có thể họ dựa ít nhiều theo khoa học khi dò tìm căn nguyên của vũ trụ nầy do đâu ?,có tác dụng gì trong cuộc sống ? có ích gì trong việc làm người ,có khi họ đang tìm xem Đạo lí nào khả dĩ đáng tin đễ họ theo nhưng chưa thấy vì thế họ gọi trời đất và những hiện tượng chung quanh là tự nhiên.
    Nay tôi xin dùng chữ đấng Tạo hóa ( còn Lão Tử gọi là Đạo ) để trỏ vào ngôi vị đó. . Chử Đạo mà Lão Tử dùng ,hình như không đễ chĩ cái quyền năng sinh sát mà là chỉ cái chủ trương ưu ái, sự chăm lo và yêu thương cho vạn loại. một cách thật công bằng. . Thế mà Vua chúa sữ dụng chữ Đạo trong Đạo Vua Tôi để tước đoạt thật nhiều quyền lợi mà quan trọng nhất là quyền được sống của thần dân dưới quyền mình ( trên 3.700 năm qua từ thời nhà Hạ ,trước thời Lão Tử chừng 1.400 năm)
    Tôi đã cố tìm đọc khá nhiều công trình nghiên cứu dịch giãi về Đạo Đức kinh và đã tìm luôn trong các loại từ điển Hán, Anh, Pháp, Bồ và Việt, cũng chi thấy chữ Đạo có chừng 45 nghĩa ,mà nghĩa gốc là “ Đường lộ “ hoặc “đường lối” và cũng mang những nghĩa như học thuyết hay phương pháp trong chuyên từ Tôn giáo , và chữ Đạo cũng có đến hơn 1200 từ ghép ,mà không thấy ai so sánh ẩn ý của Lão Tử dùng chữ Đạo để chỉ về : Sự yêu thương vạn loại hết sức bình đẵng, ít nhất là hai tánh cách trái ngược nhau giữa Đạo Tạo hóa . và Đạo Quân thần . Ông đã nói :Trước khi có Trời đất thì đã có Đạo, Vậy Đạo lúc ấy và mãi đến nay có chủ trương gì ?. Có phải Đạo của Tạo hóa muốn cho vạn loại cùng được sống trong sự bảo vệ của Tạo Hóa, còn Đạo Quân thần của vua chúa đặt ra: Có phải đang bóp chết con người theo ý muốn của Vua ? Cũng như: ”Danh” Vua là “Chí tôn Thiên Tử “ Tạo hóa ban cho họ, hay họ tự tiếm quyền ? .Qua câu mỡ đầu: ( Đạo khả đạo phi thường Đạo .Danh khả danh phi thường Danh ).Lão Tử muốn nói :sự tiếm quyền và lạm quyền ấy không thể nào còn mãi được ? Theo tôi thấy nó là vậy, nên trình bày cùng quý vị .Mong được sự chỉ giáo thêm .
    PHẦN 1
    Sự tạo dựng Trời đất và vạn vật một cách thật chu tất ( dù chưa hoàn hảo)
    Mỗi sự vật và hiện tượng trên trái đất ,với sự xuất hiện của chính chúng ta .đó là một biểu hiện của tính bình đẳng. Nhiều người tin rằng cuộc sống của họ có sự chi phối , nâng đỡ và can thiệp đúng lúc của đấng Tạo hóa , dĩ nhiên điều nầy không phải xuất phát từ nhiều hiện tượng khó hiểu và bí ẩn xung quanh cuộc sống thường ngày của chúng ta , mà nhiều khi khoa học – nhứt là các khoa học thực chứng , cũng lâm vào tình trạng bất khả giải, mà xuất phát từ một niềm tin cao cả và có tính vĩnh hằng trong lòng của những người yêu chuộng Đạo đức và công bình . Đó mới chính là ý nghĩa của Lão Tử và Đạo Đức Kinh !
    Một xác tín rằng ,từ những vật lớn như hệ mặt trời, các tinh tú , các loài sinh vật trung bình đến vi trùng cực nhỏ, đều được chăm lo chu toàn trong việc sinh, dưỡng để dung hòa chủng loại và đễ bảo vệ môi trường chung cho toàn thể mà không hề ghét bỏ vật nào ,huống hồ là con người bị cướp cả quyền được sống trong suốt quá trình dài trong lịch sữ nhân loại dưới thời “Quân chủ chuyên chế”
    Chương 40 Lão Tử viết “Phản giã đạo chi động, . Theo tôi :chử “phản” có nghĩa là : tự xét . Tạo hoá luôn xét lại việc đã làm của mình ,xem nên bổ sung hay bớt bỏ điều gì, vật nào cho phù hợp với cuộc sống của vạn loai .?:
    -Bớt bỏ : Loài Khũng long đã bị tuyệt chủng.( như ta đã thấy, biết )
    -Thêm vào : Hình thành Đại Tây Dương bằng cách : .Tách lục địa châu Mĩ ra khỏi lục địa châu Âu và châu Phi.,Khi đã có được biển ấy, nước ở các nơi khác rút vào biễn đó để lộ ra phần lục địa như năm châu ngày nay, để vạn loại có đủ nơi sinh hoạt mà không bị gò bó chật chội chăng ?
    Lại nữa, các nhà thiên văn học đang cho biết: một số hành tinh của vũ trụ đang bị hoại đi và có những hành tinh khác đang được hình thành. Đây có phải là đấng Tạo hóa đang sửa đổi những gì cần phải cải cách cho phù hợp với cuộc sống của vạn loại ? Những việc ấy xãy ra đã quá lâu và quá xa nên rất ít người biết ,còn việc Sao chổi Halley xãy ra vào cuối thế kĩ 20 sẽ không xa lạ gì với chúng ta, Qua báo đài ,ít nhiều ta cũng thấy hình dạng ,khối lượng và hướng đi của nó mà các giới khoa học đã làm gì cho nó đỗi hướng đễ khỏi chạm vào trái đất nầy? Chúng ta chưa có cách, chỉ biết cầu nguyện ! Có thể quí vị không tin ,không cầu nguyện, nhưng chúng tôi luôn tin rằng Tạo hóa luôn dõi theo và sẽ can thiệp .đúng lúc .Nên đã được an lành . Tạo hóa đối với vạn loại là vậy ,nhưng Vua chúa tự cho mình có quyền thay trời đễ trị dân ,chăm lo và yêu thương dân hay là đang bốc lột dân . Họ chỉ thể hiện quyền uy và đoạt lợi ,đâu như Lão Tử mong ước .
    Trong tâm thức nhân loại luôn chứa đựng những khát vọng về bình đẳng ,hòa bình; luôn mong muốn mình được sống trong sự yêu thương và ràng buộc nhau bởi sự yêu thương ấy ! Trong khi ấy thì có một số người, dù không còn được làm vua, mà vẫn lợi dụng quyền uy đang có của mình, muốn dùng vũ lực hoặc các vũ khí giết người hằng loạt để tiếp tục muốn biến nhiều người khác thành nô lệ của họ. Trong khi ấy thì Đạo luôn phục dựng lại sự yêu thương , bình đẵng và đoàn kết cho toàn thễ nhân loại trong hành tinh nầy .
    Viết quyễn sách nầy là tôi muốn góp lời nói rằng Lão Tử biết rõ tương lai của ngôi nhà chung nầy phải có sự bình đẵng nhân loại. Đã đến lúc không còn ai tự cho mình có quyền thay trời đễ sanh sát thần dân, mà phải cùng chung tay đưa vạn loại đến sự Công bình ,đoàn kết trong yêu thương của Đạo Đức .
    Soi rọi tâm thân ,thành khẩn chừa mọi tội lỗi mà chúng ta đã phạm phải trong quá khứ và sẵn sàng từ bỏ trong tương lai để xây dựng một lối sống tốt cho mình và cho mọi người, chẳng phải là điều mà nhân loại đang hướng tới hay sao ? Đạo đức kinh, là một lời khuyên, lời khuyến cáo chân thành của Lão Tử đối với con người cho cuộc sống của họ trong cộng đồng xã hội .
    Đọc Đạo Đức Kinh ,tôi khẩn xin quý vị đừng bỏ thời gian quí báo của mình để tìm hiểu : Lão Tử sanh trước hay sau Khỗng Tử ?, họ Lý hay họ Lão ? cũng đừng thắc mắc về những người mà tôi chọn đễ điễn hình vì chúng ta dể biết về họ dù xưa hay nay, dù Đông hay Tây .Những thắc mắc nêu trên chắc không lợi gì cho chúng ta mà chỉ phí thêm thời gian thôi ! Mà đọc để nghiệm giãi Đạo Đức kinh xem nó có giúp được gì cho chúng ta và hậu thế đang cần sự yêu thương , bình đẵng và đoàn kết trong thanh bình.

    2 – Chữ Đạo, Đức, Vô vi và Hữu vi của Tạo hóa
    (Chương 42 Lão Tử viết: “Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật”).
    Đạo: vì muốn có sự sinh sôi và để cùng chung sống với muôn loài, nên sinh ra Một là “ đức hiếu sinh” tượng trưng cho yêu thương và bình đẵng.
    Đức: sinh ra Hai là Vô vi và Hữu vi ấy là hai giai đoạn đễ tạo lập vũ trụ .
    - Vô vi: Kế hoạch thật chu toàn được lập nên bởi : Muốn có nhiều loại cùng chung sống thì phải có chỗ nơi để vạn vật có nơi chốn đễ sinh hoạt đi đứng, để ăn uống, để thở, nên Tạo hóa phải trù liệu thật chu tất .
    Hữu vi: Gom góp các thứ (vật liệu ) có trong phần hỗn độn gồm:
     Chất cứng: như đất, đá, kim loại.
     Chất lõng: như nước, dầu.
     Chất Khí: như không khí và các loại khí.
    Ba là: 3 thứ vật chất: chất cứng, chất lỏng, chất khí cấu thành hình vũ trụ , rồi đưa vào một chất bán hữu hình là lữa làm năng lực mà vận hành vũ trụ.( Theo tôi hình như không giống với Kinh Dịch (Vì 3 bước của Dịch là :Thái cực, Lưỡng nghi, Tứ tượng, còn Lữa thì ở Cung LY thuộc giai đoạn Bác Quái, về mặt nầy ta không cần bàn).Theo Lão Tử thì sau khi có đủ Bãy Chất (là Ba) thì Vũ trụ mới hình thành và vạn vật mới được sinh ra, lớn dần bởi lương thực, đến khi trưởng thành chúng truyền giống, rồi hiến lực, hiến thân xác làm lương thực cho các loài khác khi chết. Đó chính là sự cống hiến ,là nấc thang trong chương trình Tiến hóa của Tạo hóa (Đạo).Bỡi muốn có công với đời ,phải cống hiến cho đời !
    Chúng ta thấy ,không chỉ có đấng Tạo hóa mới dùng Đạo Đức, Vô vi và Hữu vi , mà mỗi người trong chúng ta cũng phải thực hiện Ba thứ ấy trong cuộc sống của mình đễ được trở thành một con người hay Thánh nhân là :Cống hiến. .
    Vô vi và Hữu vi của con người là : Ở thời tiền sử, con người chỉ biết săn bắt, hái lượm để sống. Khi đó người đầu tiên nghĩ ra cách chăn nuôi, gieo trồng, ấy gọi là Vô vi (suy nghiệm ra những cách mà trước đó chưa hề có, chứ không phải không làm gì.) Như vậy là :Nghĩ ra cách gieo trồng ,nghĩ ra cách dùng sức trâu, bò kéo cày, ngựa kéo xe ,rồi tàu thủy, phi cơ, đến mọi vật dụng điện tử như ngày nay .Như vậy: Làm việc bằng trí óc: động não, suy ngẫm, tìm ra cái mới, đựơc gọi là “Vô vi” ấy là tạo dạng, và “Hữu vi”là làm ra vật bằng công sức mới thành vật hữu dụng. Vì thế: Thỉnh thoãng ta nghe : Ông A Phát minh ra thuốc trị bệnh Lao, Ông B làm ra Pin mặt trời .v .v. Đều do Vô vi và Hữu vi cã !.( Chương 1. . .thử lưỡng giã đồng xuât nhi dị danh. .) Hai sự việc cùng nhau thực hiện sẻ có những (thứ) khác tên. Nếu Vô Vi là theo tự nhiên thì Kênh đào PANAMA , Kênh đào XUÊ v .v Mà công dụng quang trọng vô cùng của nó làm sao có được .?
    .Người làm Vô vi và Hữu vi ,họ vừa cống hiến và cũng vừa nhận lại phần thù lao xứng đáng của đời .Nếu công lớn họ có thể giàu ,cũng có thể là Thánh nhơn .
    Kính thưa quý vị! Tôi muốn mượn Lời tự bạch này để kính mong quý vị xét, xem có nên dành thời gian quý báu của mình để đọc tập sách nhỏ này của một người dịch bình thường không tên tuổi như tôi qua quyển Nghiệm giải Đạo Đức Kinh .
    Thu phân Canh Dần niên
    . Cẩn bút
    .Lê Hòa Phong

    Phần thứ nhất :
    Một số vấn đề về Lão Tử và Đạo đức kinh.
    Quyển Đạo đức kinh là tác phẩm duy nhất của Lão Tử, được viết ra trong giai đoạn cuối đời của ông (cuối thời đồ đồng, đầu thời đồ sắt : giai đoạn Đông Chu 722 – 453 giữa thời Xuân Thu trước Tây lịch theo J – Geret trong La Chine an Cienne – 1964). Sự chuyển biến của xã hội khiến ông ngộ ra nhiều điều, nên ông không chú tâm đến việc thăng quan mà chỉ muốn đọc sách và nghiên cứu, ông chỉ giữ chức quan thủ tàng thư (giữ kho sách) cho nhà Chu, việc này rất khác với nhiều người xưa và nay. Vả lại, vào thời Xuân Thu có đến trên 300 cuộc giết vua đoạt vị chỉ trong 241 năm làm cho bao nhiêu người chết để cho họ tranh quyền lực. Sự Tôn pháp càng tăng thì Đạo Quân thần càng cực đoan hơn. Có lẽ vì thế mà tư tưởng “Bất tranh nhi thiện thắng” của ông bị cho là nghịch lí, tiêu cực. “Vô vi” là lười biếng không làm gì, “Phản phục qui nguyên” là phản tiến hóa. Nên hầu hết người thời ấy đều chê trách và xa lánh. Vì thế mà sách của ông rất ít người đọc. Trong những năm qua Đạo đức kinh cũng đã được chú ý nhiều ,tuy nhiên ở Việt Nam có cụ Nghiêm Toản, cụ Nguyễn Duy Cần, thầy Giáp Văn Cường, thầy Vũ Thế Ngọc cụ Nguyễn Hiến Lê đã dịch, nhưng mỗi người chỉ nêu sự thắc mắc mà chưa tìm cách lí giãi, ngoài ra tôi còn biết ở Âu, Mĩ có đến trên 60 bản tiếng Anh và gần 50 bản tiếng Pháp và nhìêu thứ tiếng khác nữa. Thì ra, độc giả nước ngoài họ trọng Đạo đức kinh hơn chúng ta rất nhiều. Vì tôi là tín hữu Cao Đài giáo, thờ Lão Tử là một trong Tam giáo Đạo Sư mà không góp phần dịch Đạo đức kinh và nghiệm giãi theo ý ông thì là một thiếu sót lớn.
    1. Văn bản gốc:
    Lâu nay trong giới nghiên cứu cũng không ít người đặt sự hoài nghi của mình về tính chân thực của nguyên bản quyển Đạo đức kinh của Lão Tử. Một câu hỏi được đặt ra là: “ Văn bản tiếng Hán được lưu hành hiện nay có đáng tin không?” Đó là sự hoài nghi có thể được xem là chính đáng đối với những người có tâm huyết và nghiêm túc trong việc nghiên cứu cổ học, nghiên cứu các trước tác của tiền nhân.
    Có nhiều lý do để bạn đọc yên tâm về vấn đề này:
    Thứ nhất Nhà Tần sau khi thống nhất thiên hạ, Tần Thủy Hoàng vì muốn diệt mọi mầm loạn, thống nhất tư tưởng , văn tự và chính kiến nên đã thực hiện chủ trương được gọi là “ Phần thư khanh Nho ”( đốt sách chôn học trò) Tứ Thư,Ngũ Kinh và các loại sách nghị luận chính trị bị đốt và hủy diệt luôn các loại chử khác đễ thống nhứt văn tự .Còn quyển Đạo Đức Kinh vì quá uyên áo mà vua Tần lại muốn trường sinh nên cho là bảo điễn mà ít bị nguy hại chăng ?,lại một lần nữa Hạng Vũ đốt thư khố nhà Tần, tuy bị cháy hết tại kho sách nhưng những sách vẫn còn lưu hành trong dân gian, thêm vào đó đã được người đời sau sưu tầm lại. Hơn nữa người ta có văn bản Đạo đức kinh được chép trên núi đá năm 708, và năm 1973 giới khảo cổ Trung Quốc lại tìm thấy hai bản Đạo đức kinh trong một ngôi mộ cổ có niên đại từ năm 168 trước Công nguyên ở Hà Nam. So các văn bản ấy với nhau thì rất ít có sự khác nhau, chẳng qua là ở một vài từ mà phần nhiều lại là do kiến giải khác nhau của các nhà nghiên cứu ,hoặc là do kị húy mà có xãy ra.
    Riêng tôi (dịch thuật) cố gắng dịch cho xác nghĩa ,đáp ứng nhu cầu tìm hiểu Đạo Đức kinh có giá trị gì trong cuộc sống mà nhân loại đang hướng tới ?,(chứ tìm hiểu nguồn gốc của Đạo Đức kinh trong lúc nầy thấy chưa cần thiết lắm đâu).
    2. Học thuyết của Lão Tử
    Tạo hóa (Đạo) tạo dựng trời đất một cách thật chắc chắn (vĩnh cửu) thì Tạo hóa có thừa khả năng tạo dựng một vị thánh nhân nào đó cùng sống vĩnh cửu như trời đất để cai trị thế gian này! Thế sao Tạo hóa không làm thế mà chỉ tạo ra hai loại động và thực vật, để cùng nhau tiến hóa, ai tiến hóa đến mức sớm thì sẽ được thay mặt Tạo hóa dẫn dắt chúng sinh, chăm lo cho họ theo đường lối yêu thương là “Đạo”, một cách thật bình đẳng là “Đức” mà biểu hiện cụ thể ở một giai đoạn ấy chính là vua Nghiêu. Nhưng đời người chỉ có trăm năm mà phải mất đến 20 năm để trưởng thành, cộng thêm 20 năm trau luyện , tuổi 40 không còn mê lầm (tứ thập bất hoặc), tuổi 50 mới hiểu mình đủ khả năng gánh vác mệnh trời hay không?, (ngũ thập tri thiên mệnh) tuổi 70 xưa nay hiếm (Thất thập cổ lai hy). Như vậy tuổi có thể gánh vác mệnh trời chỉ 15 năm “(50 đến 65 tuổi), vì thế nên việc dẫn dắt muôn dân phải được luân phiên mới hợp đạo lí. Cho nên việc Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn và Thuấn truyền ngôi lại cho Vũ là đúng Đạo, thế mà Vũ truyền ngôi lại cho con là Khải là sai Đạo, vì việc trao truyền như thế là nhằm củng cố ngôi vị và tạo ra vương tộc ,chính họ đã tạo ra pháp chế truyền tử hơn 4.000 năm qua .
    Tạo hóa rất công bằng ban phát cho con người như nhau: cơm ba bát, ngày ăn ba bữa, nằm chĩ một giường. Tuy ngon – dở, sướng – khổ, đủ – thiếu, giàu – nghèo có khác nhau nhưng đó là do năng lực riêng của mỗi con người, còn về phần bình đẳng là do con người phải cư xử với nhau cho đúng với “Đạo” ấy gọi là “Đức”. Nên quyển Đạo đức kinh mà Lão Tử nói có ý và nghĩa như thế.
    Viết quyển sách này Lão Tử không chỉ nhắm vào các thánh nhân, quân tử, quý tộc mà còn nhằm vào dân chúng với mong ước những người đang nắm quyền thời ấy sớm biết, sớm cải cách (vô vi trong đường lối lãnh đạo) và dân chúng nên sớm theo, biết tránh những tranh giành không đáng có, biết vui, biết đủ trong cuộc sống của mình( vô vi trong lối sống).
    3. Tiểu sử của Lão Tử
    Theo Tư Mã Thiên: Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự là Bá Dương, thụy là Đam (sinh khoảng năm 580 trước Tây lịch) ở xóm Khúc Nhân, làng Lệ, huyện Hổ thuộc nước Sở (Trung Quốc) sinh ngày 15 tháng 2 Âm lịch (theo Tiên giáo chí tâm kinh – Cao Đài giáo), không nghe nói đến vợ và con.
    Ông làm quan giữ kho sách (tàng thư khố) cho nhà Chu. Lúc ấy nhà Chu suy yếu mà ông thì đã già nên ông bỏ Chu mà đi về hướng tây, ông gặp huyện lệnh là Doãn Hĩ, vì mến mộ Lão Tử nên Doãn Hĩ thưa với ông: “Ngài toan đi ẩn, xin vì sự mến mộ của tôi mà để lại bộ sách”. Ông ở lại viết quyển Đạo đức kinh trao lại rồi từ giã mà tiếp tục đi, từ đó không còn ai biết đời ông chung cuộc ra sao? Tiểu sử của ông hầu như vỏn vẹn chỉ có thế thôi.
    4. Ước vọng của Lão Tử:
    Có thể Lão Tử là người tin mãnh liệt về sự luân hồi của vạn vật và có thể Ông đã ít nhiều lần tái kiếp (Ta thấy một chiếc lá cây, nó chỉ hiện diện trên thân cây trong thời khắc một năm: xuân trổ, hạ trụ, thu tàn, đông hoại, mà thân cây thì có khi sống đến vài trăm năm. Như vậy cái chết của lá, nó bù đắp một phần nhỏ nào đó cho thân cây; Vua Thần Nông chết đi mà nông cụ của Ông vẫn đang góp phần phục vụ sự sống cho mấy tỉ con người; cái chết của Abraham Lincoln đổi lại tự do cho mấy triệu người nô lệ; (dẩn đến việc xoá hết ách nô lệ trên thế giới như hiện nay ), cái chết của chúa Jesu đổi lại một chân lý mà muôn đời hiệu dụng. Đó là hiệu quả mà chúng ta nhận thấy được, còn những thứ mà mắt thường không trông thấy được (Chương 14 ông viết: “Xem thì không thấy, lóng thì không nghe, bắt thì không nắm được”), ông muốn nói đến không khí, một thứ luôn cọ sát và bao quanh chúng ta mà ta không quan tâm, mà vì lợi ích riêng đã vô tình làm ô nhiễm nó, vì thế ta phải chung tay lo bão vệ vì con cháu ta rất cần nó ở mai sau .
    Kính mời quý vị cùng tôi đi sâu vào nội dung Đạo đức kinh, chúng ta sẽ thấy ngoài vấn đề Đạo Đức ông còn đề cập nhiều lắm: Công bằng, Bác ái, Dân chủ, Cộng hòa. Kể cả Bình đẳng giới (Làm như con Mái) mà tư tưởng này đã bị câu “phụ nhân nan hóa” chôn vùi đã mấy ngàn năm qua. Thì ra tư tưởng của ông thông suốt từ ấy đến nay, thế kỷ XXI mà vẫn còn hiệu dụng.
    5. Ước vọng của dịch giả
    Tư tưởng Tiểu quốc quả dân (chương 80) Thà rằng Lãnh đạo một nước nhó dân ít mà dân sống sung túc và hạnh phúc vẫn còn hơn lo phát triễn vũ khí hạt nhân đễ mỡ mang bờ cỏi bao la mà dân đói kém thiếu lương thực, thất nghiệp luôn sống trong nghèo đói, Cái nào tốt hơn ?.Hay là họ muốn truyền thừa ngôi vị cho con cháu như thời quân chủ chuyên chế .Có còn được nữa hay không ?. Vì Lão Tử đả thấu triệt cái lẽ của Tạo hóa, cái lẽ nhân sinh, ông muốn đem cái lẽ ấy giúp nhân loại nhận diện ra được chân lý đích thực của cuộc sống và hóa giải những bất ổn do chính con người gây nên.( Đừng mong lập lại Đế Quyền ở thế kĩ 21 ).
    Mục đích chính của cuộc sống con người trong xã hội này là gì? Vinh thê ấm tử? Rạng rỡ tông môn? Hay thực thi Đạo Đức? hay một mục đích nào khác ?… Mỗi người trong xã hội đều tự đặt ra cho mình những mục tiêu sống, nhưng có người vì đặt ra mục tiêu sống cho mình một cách sai lầm ,hay chỉ biết vì mình nên còn mãi xuống, lên trên đường thăng đọa; Nay tôi xin lấy một vài người rất gần gũi với chúng ta để điển hình: Có những người không chọn mục tiêu vinh thê ấm tử hay rạng rỡ tông môn, mà chọn thực thi Đạo Đức để phấn đấu: cả đời lao nhọc không nề nguy hiểm gian nan, kham khổ, vì lợi ích đem lại tự do cho đồng bào, cho dân tộc,lo lắng và làm việc cật lực cho đến cuối đời mà tài sản riêng không đáng giá một chỉ vàng, và con cháu ông cũng chẵng có ai là quan chức lớn trong chánh phủ, đó là Hồ Chí Minh; một người khác, nuôi ý tưởng giải ách nô lệ từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, suy ra kế sách: Phải có được một quyền lực tối cao, nên cố công học tập, phấn đấu cả đời đến khi được làm tổng thống Mĩ. Kí xong Sắc luật xóa ách nô lệ và sau đó bị ám sát chết. Vì việc làm ấy đụng chạm đến quá nhiều quyền lợi của giới chủ nô, ông biết mình sẽ chết để đổi lấy tự do cho nhiều người, ông chấp nhận hy sinh mạng sống, đó là Abraham Lincoln .Lại một người khác nữa: Gia tài của ông rất lớn nhưng ông không để lại tất cả cho con cháu để được vinh thê ấm tử, mà ông vì nghĩ đến nhân loại nên dùng tài sản lao động cả đời tưởng thưởng cho những người cố công tìm ra phương pháp hòa bình, y học, khoa học để phục vụ cho nhân loại, đó là Nobel.
    Còn chúng ta -tôi và các bạn, người thì chịu sự giày vò lại lao tâm khổ tứ vì những điều cỏn con ,kẻ thì bị tù vì tội lừa gạt, gian lận, tham nhũng, buôn bán ma túy v.v… Tại sao? Vì chúng ta đặt mục tiêu phấn đấu chỉ là vinh thê ấm tử, hay rạng rỡ tông môn là những mục tiêu trôi nổi, luôn khiến bản thân mình phải chịu sự thăng đọa trong kiếp con người mà không hề biết con đường của người đời hay là pháp môn của người tu là: thực thi Đạo Đức mới là mục tiêu cao cả để con người và tăng lữ vươn tới quả vị phật tiên thánh thần . Những vĩ nhân khác với chúng ta là vì họ biết buông bỏ tài sản, công danh và sinh mạng của mình để lo cho nhân loại và vạn loại.
    Tâm trạng của Tạo hóa cũng như tâm trạng của những Mạnh Thường Quân bỏ tiền và công sức xây dựng ngôi trường, thế mà học sinh và thầy cô không lo dạy và học để tiến hóa, mà họ đang bẻ chân bàn, ghế làm vũ khí đánh nhau: lớp này đánh với lớp kia (hai nước đánh nhau), khối này chống khối khác (Đạo này chống Đạo khác), lấy ngói lợp ném chọi nhau để gây thương tích cho nhau (tàn phá môi trường chung, gây hiện tượng nghiện ngập cho nhiều người để họ làm giàu). Hiện chúng ta là quan khách đứng trước cảnh này chúng ta nghĩ sao? Như việc tạo ra chất nổ để nhân loại phá núi làm đường xá, xây dựng nhà cửa, cầu đập để ngăn lũ… thì loài người lấy làm chất nổ để khủng bố nhau vì những bất đồng nào đó. Thử hỏi học trò và thầy cô trong trường này họ đang học những gì và sẽ làm gì sau khi ra trường!!!
    Đọc Đạo đức kinh và suy ngẩm về cái Đạo của Tạo hóa, chiêm nghiệm về cuộc sống của mình và người khác để sống tốt hơn, biết yêu thương nhau hơn, biết vượt qua những điều nhỏ nhặt tầm thường trong cuộc sống là một điều nên làm vậy.

Trackback URI | Comments RSS

Leave a Reply

Facebook Like Button for Dummies