Quy khứ lai từ

November 12th, 2007

【歸去來辭】

 

陶淵明

 歸去來兮!田園將蕪胡不歸?既自以心為形役,奚惆悵而獨悲?悟已往之不諫,知來者之可追;實迷途其未遠,覺 今是而昨非。舟遙遙以輕揚,風飄飄而吹衣。問征夫以前路,恨晨光之熹微。乃瞻衡宇,載欣載奔。僮仆歡迎,稚 子候門。三徑就荒,松菊猶存。攜幼入室,有酒盈樽。引壺觴以自酌,眄庭柯以怡顏,倚南窗以寄傲,審容膝之易 安。園日涉以成趣,門雖設而常關。策扶老以流憩,時矯首而遐觀。雲無心以出岫,鳥倦飛而知還。景翳翳以將入 ,撫孤松而盤桓。  歸去來兮!請息交以絕遊。世與我而相遺,複駕言兮焉求?悅親戚之情話,樂琴書以消憂。農人告餘以春及, 將有事乎西疇。或命巾車,或棹孤舟。既窈窕以尋壑,亦崎嶇而經丘。木欣欣以向榮,泉涓涓而始流。羨萬物之得 時,感吾生之行休。

  已矣乎!寓形宇內複幾時,曷不委心任去留,胡為遑遑欲何之?富貴非吾願,帝鄉不可期。懷良辰以孤往,或 植杖而耘耔,登東以舒嘯,臨清流而賦詩。聊乘化以歸盡,樂夫天命複奚疑

 

PHIÊN ÂM

【Quy khứ lai từ】

Đào Uyên Minh

Quy khứ lai hề, điền viên tương vu, hồ bất quy? Ký tự dĩ tâm vi hình dịch, hề trù trướng nhi độc bi? Ngộ dĩ vãng chi bất gián, tri lai giả chi khả truy; thực mê đồ kỳ vị viễn, giác kim thị nhi tạc phi. Chu dao dao dĩ khinh dương, phong phiêu phiêu nhi xuy y. Vấn chinh phu dĩ tiễn lộ, hận thần quang chi hi vi. Nãi chiêm hành vũ, tái hân tái bôn. Đồng bộc hoan nghênh, trĩ tử hậu môn. Tam kính tựu hoang, tùng cúc do tồn. Huề ấu nhập thất, hữu tửu doanh tôn. Dẫn hồ trường dĩ tự chước, miện đình kha dĩ di nhan; ỷ nam song dĩ ký ngạo, thẩm dung tất chi dị an. Viên nhật thiệp dĩ thành thú, môn tuy thiết nhi thường quan. Sách phù lão dĩ lưu khế, thời kiểu thủ nhi du quan. Vân vô tâm dĩ xuất tụ, điểu quyện phi nhi tri hoàn. Cảnh ế ế dĩ tương nhập, phủ cô tùng nhi bàn hoàn. Quy khứ lai hề, thỉnh tức giao dĩ tuyệt du; thế dữ ngã nhi tương di, phục giá ngôn hề yên cầu? Duyệt thân thích chi tình thoại, lạc cầm thư dĩ tiêu ưu. Nông nhân cáo dư dĩ xuân cập, tương hữu sự ư tây trù. Hoặc mệnh cân xa, hoặc trạo cô chu, ký yểu điệu dĩ tầm hác, diệc khi khu nhi kinh khâu. Mộc hân hân dĩ hướng vinh, tuyền quyên quyên nhi thủy lưu. Tiện vạn vật chi đắc thời, cảm ngô sinh chi hành hưu! Dĩ hĩ hồ! Ngụ hình vũ nội phục kỷ thời, hạt bất ủy tâm nhiệm khứ lưu? Hồ vi hồ hoàng hoàng, dục hà chi? Phú quý phi ngô nguyện, đế hương bất khả kỳ. Hoài lương thần dĩ cô vãng, hoặc thực trượng nhi vân tỷ, đăng đông cao dĩ thư kiếu, lâm thanh lưu nhi phú thi. Liêu thừa hóa dĩ quy tận, lạc phù thiên mệnh phục hề nghi?

DỊCH NGHĨA:

Bài từ “Về đi thôi”

Về đi thôi hề, ruộng vườn sắp hoang vu, sao không về? Đã tự đem lòng cho hình sai khiến, sao còn một mình buồn bã, đau thương? Hiểu dĩ vãng không can nổi, biết tương lai có thể theo. Chưa thực đi xa trên đường mê; thấy hôm nay phải còn hôm qua trái. Thuyền phơi phới nhẹ đưa, gió hiu hiu thổi áo. Hỏi khách chinh phu về con đường phía trước; giận ánh sáng ban mai còn mờ nhạt. Rồi trông thấy nhà, vui tươi, rong ruổi. Tiểu đồng ra chào mừng, trẻ nhỏ đợi ngoài cổng. Ra lối nhỏ đến vường hoang, hàng tùng, cúc hãy còn đây. Dắt con vào nhà, có rượu đầy ly. Cầm nậm, bôi tự chuốc; ngắm cây sân, mặt vui. Dựa cửa sổ nam, lòng phóng khoáng; thấy nơi chật hẹp, dễ an nhàn. Ngày ngày dạo qua vườn rồi thành thú; cửa tuy có đặt nhưng thường đóng. Chống cây gậy, thơ thẩn nghỉ ngơi; thường ngẩng đầu, trông ra phía xa. Mây vô tâm bay ra hàng núi; chim bay mỏi, biết quay trở về. Cảnh mờ mờ sắp vào trong bóng đêm. Vỗ cây tùng lẻ loi, lòng bồi hồi. Về đi thôi hề, hãy đoạn tuyệt giao du. Đời đã cùng ta lìa bỏ nhau, còn dùng lời suông hề cầu chi nữa? Ưa lời nói chứa chan tình cảm của người thân thích; vui với cây đàn, cuốn sách để khuây lo. Nhà nông bảo ta mùa xuân đến, sắp có việc làm tại cánh đồng tây. Hoặc đi chiếc xe giănng màn, hoặc chèo con thuyền lẻ loi. Đã len lỏi tìm khe suối, lại gập ghềnh đi qua gò. Cây hớn hở hướng đến màu tươi; suối êm đềm bắt đầu trôi chảy. Ngợi khen cho muôn vật đắc thời; cảm khái đời ta xưa làm nay nghỉ. Thôi hết rồi! Gữi hình trong vũ trụ được bao lâu? Sao không thả lòng mặc ý ở đi? Tại sao còn thắc mắc, muốn đi đâu? Giàu sang chẳng phải điều ta nguyện; chốn đế hương không thể ước ao. Nghĩ buổi sáng đẹp trời, một mình dạo chơi, hay dùng gậy làm cỏ, vun mạ. Lên bãi đông, ngâm nga thư sướng; đến dòng suối trong , làm bài thơ. Hãy thận theo sự biến hóa của âm dương mà về chốn tận cùng. Vui mệnh trời, còn nghi ngờ chi?

Trần Trọng San dịch

DỊCH THƠ:

Đi về, sao chẳng về đi?
Ruộng hoang vườn rậm, còn chi không về?
Đem tâm để hình hài sai khiến,
Còn ngậm ngùi than vãn với ai?
Ăn năn thì sự đã rồi,
Từ đây nghĩ lại biết thôi mới là.
Lối đi lạc chửa xa là mấy,
Nay khôn rồi chẳng dại như xưa.
Con thuyền thuận nẻo gió đưa,
Gió hây hẩy áo, thuyền lơ lửng chèo.
Hỏi hành khách lồi nào đi tời,
Bóng mập mờ trời mới rạng đông.
Miền quê nẻo bước xa trông,
Chân hăm hở bước, đường mong tời nhà.
Chạy đón chủ năm ba đầy tớ,
Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con.
Rầm rì ba khóm con con,
Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa.
Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ,
Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò.
Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ,
Cười nom sân trước thấp tho mấy cành.
Ngồi giễu cợt một mình trước sổ,
Khéo cũng hay vừa chổ rung đùi.
Thăm vườn dạo thú hôm mai,
Cử dù có, vẫn then cài như không.
Chống gậy dạo quanh vườn lại nghỉ,
Ngắm cảnh trời khi ghé trông lên.
Mây đùn mấy đám tự nhiên,
Chim bay mỏi cách đã quen lối về.
Bóng chiều ngả bốn bề bát ngát,
Quanh gốc tùng, tựa mát thảnh thơi.
Từ đây về thực về rồi,
Thôi xin từ tuyệt với người vãng lai.
Ví ta đã với đời chẳng hiệp,
Cần chi mà giao thiệp với ai?
Chuyện trò thân thích mấy người,
Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ buồn.
Người làm ruộng ôn tồn nói chuyện,
Tới xuân rồi sắp đến việc ta.
Hoặc truyền sắm sửa cân xa,
Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coĩ đồng.
Dưới khe nọ nước vòng uốn éo,
Bên đường kia gò kéo gập ghềnh,
Cỏ cây mơn mởn màu xanh,
Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra.
Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt,
Ngán cho ta thời trót già rồi.
Thôi còn mấy nỗi ở đời,
Khứ lưu sao chẳng phóng hoài tự nhiên?
Cớ chi nghĩ thêm phiền tấc dạ,
Đi đâu mà tất tả vội chi?
Giàu sang đã chẳng thiết gì,
Cung tiên chưa dễ hẹn gì lên chơi.
Chi bằng lúc chiều trời êm ả,
Việc điền viên vất vả mà vui.
Lên cao hát một tiếng dài,
Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu.
Hình thể này mặc dầu tạo hoá,
Tới lúc nào hết cả thì thôi.
Lòng ta phó với mệnh trời,
Đứng ngở chi nữa, cứ vui vẻ hoài.

Từ Long dịch

Vườn xưa bỏ phế đã lâu ,
Người còn mê tỉnh nơi đâu chưa về ?
Bấy lâu làm một Chú Hề ,
Mặc cho ngoại cảnh kéo lê thăng -trầm ,
Hôm nay đã tỏ sai lầm ,
Không mau quay lại ,Kiếp Tầm tiếc chi ?
Gió lay ru mộng xuân thì,
Thuyền Tâm lướt sóng đến -đi nhẹ nhàng ,
Chinh Phu mơ giấc Sa Tràng ,
Ban mai chưa tới mộng vàng đã tan ,
Nhà Ta thấp thoáng một Gian ,
Trẻ vui đón Chủ dặm ngàn về thăm ,
Cúc Tùng vẫn tỏa bóng râm ,
Vườn hoang ngày cũ bao năm điêu tàn ,
Mảng vui nâng Chén Rượu tràn ,
Nẻo bon chen trước ngỡ ngàng tránh xa,
Sớm hôm theo thú yên hà,
Cài then say cảnh Trăng hòa bóng mây ,
Rõ ràng Chân-Giả là đây ,
Núi xa mõi cánh Chim bay trở về ,
Trời đêm quạnh vắng tư bề,
Thâm giao đâu nhỉ ? não nề thân đơn !
Xoay lưng nhặt nữa cung đờn (*)
Đạo -Đời không chấp thiệt hơn sá gì ?
Trước vì danh lợi nên si,
Mê lời ngon ngọt Tâm đi quên về ,
Giờ thì Thi phú giải khuây ,
Xuân sang ra cánh Đồng tây gieo mầm ,
Suối trong một dãi êm đềm ,
Cảnh xuân tươi tốt gợi niềm Thế Nhân ,
Vấn lòng : “Vũ Trụ gửi thân ,
Vinh hoa mấy thuở mà bâng khuâng tìm ?”
Không cho Bể Ái nhận chìm,
Quay vào Tự Tánh màn đêm xóa dần ,
Gậy Tre vun Mạ chuyên cần ,
Thuận theo Tạo Hóa mới rằng không sai !
Âm Dương Đạo chẳng phân hai ,
Về thôi, đi mãi khổ hoài đeo mang !
Về mau thua-được chớ bàn !
Về mau vui thú cảnh nhàn Ai ơi !
Về mau đừng mãi rong chơi !!!

Bạch Thủy dịch

(*)Trích từ hai câu Thơ của Thầy Tuệ Sỹ:
“Ngược xuôi nhớ nữa Cung đàn ,
Ai đem Quán trọ mà ngăn nẻo về ”

Tác giả – tác phẩm:

Đào Tiềm (365-427) tự là Uyên Minh, hiệu là Ngũ Liễu tiên sinh, gặp thời loạn lạc mà bất lực trước thời cuộc, ông từ quan về ruộng ở ẩn.  Khi làm chức Huyện lệnh ở Bành Trạch, từng nói câu: “Tại sao ta vì năm đấu gạo mà chịu khom lưng cúi đầu“.  Đào Tiềm là tác giả đầu tiên mà cũng là người đại biểu cho loại văn thơ điền viên của Trung Quốc thời Đông Tấn, với llời lẽ bình dị, tự nhiên mà ý tứ rất thâm trầm, sâu sắc.  Bài “Quy khứ lai từ” trên đây gần giống như bài thơ trữ tình, là một trong những bài từ nổi tiếng nhất của ông tả cảnh sống thanh bần giản dị và những niềm vui đạm bạc ở nông thôn khi tác giả mới về quy ẩn lúc 41 tuổi.

 

Print Friendly, PDF & Email