Archive for September, 2008



HẬU XÍCH BÍCH PHÚ

September 1st, 2008

後赤壁賦

是歲十月之望,步自雪堂,將歸於臨皋。二客從予,過黃泥之阪。霜露既降,木葉盡脫,人影在地,仰見明月。顧而樂之,行歌相答。

已而歎曰:有客無酒,有酒無肴;月白風清,如此良夜何?客曰:今者薄暮,舉網得魚,巨口細鱗,狀如松江之鈣顧安所得酒乎?歸而謀諸婦。婦曰:我有鬥酒,藏之久矣,以待予不時之需。

於是攜酒與魚,複游於赤壁之下。江流有聲,斷岸千尺。山高月小,水落石出。曾日月之幾何,而江山不可複識矣。予乃攝衣而上,履巉岩,披蒙茸,踞虎豹,登虯龍;攀棲鶻之危巢,俯馮夷之幽宮。蓋二客不能從焉。劃然長嘯,草木震動,山鳴谷應,風起水湧。餘亦悄然而悲肅然而恐,凜乎其不可留也。返而登舟,放乎中流,聽其所止而休焉。時夜將半,四顧寂寥。適有孤鶴,橫江東來,翅如車輪,玄裳縞衣,戛然長鳴,掠予舟而西也。

須臾客去予亦就睡。夢一道士,羽衣蹁躚,過臨皋之下,揖予而言曰:赤壁之遊樂乎?問其姓名,俯而不答。嗚呼噫嘻!我知之矣。團昔之夜,飛鳴而過我者,非予也耶?道士顧笑,予亦驚悟。開戶視之,不見其處。

PHIÊN ÂM

HẬU XÍCH BÍCH PHÚ

Thị tuế thập nguyệt chi vọng, bộ tự tuyết đường, tương quy ư lâm cao.  Nhị khách tòng dư, quá hoàng nê chi phản.  Sương lộ kí hàng, mộc diệp tận thoát, nhân ảnh tại địa, ngưỡng kiến minh nguyệt.  Cố nhi nhạc chi, hành ca tương đáp.
Dĩ nhi thán viết :” hữu khách vô tửu, hữu tửu vô hào; nguyệt bạch phong thanh, như thử lương dạ hà ?” khách viết :” kim giả bạc mộ “, cử võng đắc ngư, cự khẩu tế lân, trạng như tùng giang chi cái cố an sở đắc tửu hồ ?” quy nhi mưu chư phụ.  Phụ viết :” ngã hữu đấu tửu, tàng chi cửu hĩ, dĩ đãi dư bất thì chi nhu.”
Ư thị huề tửu dữ ngư, phức du ư xích bích chi hạ.  Giang lưu hữu thanh, đoạn ngạn thiên xích.  San cao nguyệt tiểu, thủy lạc thạch xuất. Tằng nhật nguyệt chi ki hà, nhi giang san bất khả phức thức hĩ. Dư nãi nhiếp y nhi thượng, lí sàm nham, phi mông nhung, cứ hổ báo, đăng cầu long; phàn tê cốt chi nguy sào, phủ phùng di chi u cung. Cái nhị khách bất năng tòng yên. Hoạch nhiên trường khiếu, thảo mộc chấn động , san minh cốc ứng, phong khởi thủy dũng. Dư diệc tiễu nhiên nhi bi túc nhiên nhi khủng, lẫm hồ kì bất khả lưu dã. Phản nhi đăng chu, phóng hồ trung lưu, thính kì sở chỉ nhi hưu yên. Thì dạ tương bán, tứ cố tịch liêu. Thích hữu cô hạc, hoành giang đông lai, sí như xa luân, huyền thường cảo y, kiết nhiên trường minh, lược dư chu nhi tây dã.
Tu du khách khứ dư diệc tựu thụy. Mộng nhất đạo sĩ, vũ y biên tiên, quá lâm cao chi hạ, ấp dư nhi ngôn viết :” Xích Bích chi du nhạc hồ ?” vấn kì tính danh, phủ nhi bất đáp. ” Ô hô y hi ! ngã tri chi hĩ. Đoàn tích chi dạ, phi minh nhi quá ngã giả, phi dư dã da ?” đạo sĩ cố tiếu, dư diệc kinh ngộ. Khai hộ thị chi, bất kiến kì xử.

DỊCH NGHĨA

Ngày mười rằm tháng mười năm ấy,
Từ nhà Tuyết Đường ra đi,
Để về đình Lâm cao,
Hai người khách theo ta.
Qua giốc Hoàng nê,
Sương móc đã xuống,
Lá cây rụng hết,
Bóng người ở dưới đất,
Ngửa trông lên thấy trăng sáng,
Nhìn nhau vui vẻ,
Vừa đi vừa hát, người hát kẻ hát theo.
Rồi mà than rằng :
Có khách không có rượu,
Có rượu không có nhắm,
Trăng trong gió mát,
Đêm đẹp này biết làm thế nào ?
Khách nói : Buổi chiều hôm nay,
Nhắc lưới được cá,
Miệng lớn vây nhỏ,
Dáng như cá lô sông Tùng giang,
Biết làm sao cho có rượu !
Về nhà bàn với vợ,
Vợ nói : Tôi có một đấu rượu,
Cất đi từ lâu,
Để đợi ông bất thần dùng đến.
Rồi thì mang rượu và cá,
Lại đi chơi dưới núi Xích Bích.
Có tiếng nước sông chẩy,
Cách bờ xa nghìn thước,
Núi như cao, trăng như nhỏ,
Nước cạn đá chìa ra,
Trải ngày tháng chưa bao nhiêu,
Mà non sông (chỗ chơi trước) không nhận ra được nữa.
Ta đành vén áo mà trèo lên,
Bước lên đá lởm chởm, rẽ đám cỏ rậm,
Ngồi lên (tảng đá hình) hổ báo, trèo lên (cành cây vòng như) con rồng,
Với tổ chim cắt chỗ chênh vênh,
Cúi xuống nhìn (Thủy cung) Bằng Di tối om.
Chừng hai người khách không thể theo được,
Quát lên gọi to,
Cây cỏ rung động,
Núi hang vang lên,
Gió nổi nước bắn tung tóe.
Ta cũng nao núng mà buồn,
Nghiêm lặng mà sợ,
Ghê rợn không thể ở lại nữa.
Trở ra mà lên thuyền,
Buông ra giữa dòng sông,
Mong đến chỗ dừng thuyền mà nghỉ ngơi.
Lúc ấy gần nửa đêm,
Bốn bề vắng vẻ,
Chợt có một con hạc,
Bay ngang sông từ phía đông lại.
Cánh xòe như bánh xe,
Xiêm đen áo trắng,
Vụt nhiên kêu lên,
Lướt qua thuyền ta mà đi về hướng tây.
Chốc lát khách ra về,
Ta cũng đi ngủ,
Mơ thấy một Đạo sĩ,
Áo lông (loài chim) phơi phới,
Đi qua dưới đình Lâm cao,
Vái chào ta mà hỏi :
Đi chơi Xích Bích có vui không ?
Ta hỏi tên họ,
Cúi đầu mà không trả lời.
Hỡi ơi ha ha.
Ta đã biết rồi,
Liệu lúc đêm vừa đây,
Bay kêu qua thuyền ta, chẳng phải nhà ngươi đấy ư ?
Đạo sĩ nhìn ta cười,
Ta cũng giật mình tỉnh dậy.
Mở cửa trông ra,
Chẳng thấy đâu cả.

CHÚ THÍCH

1.  Tuyết Đường: Nhà Tuyết Đường. Tác giả dựng nhà Tuyết Đường ở phía nam Hoàng Châu, để cùng bạn hữu ra đọc sách. Từ nhà Đông Pha đến Tuyết Đường đi bộ vừa 430 bước. Nhà lợp cỏ tranh, bốn bề vách đất, chung quanh vách đều vẽ tuyết, nên gọi là Tuyết Đường. Chính tay tác giả viết bốn chữ lớ Đông Pha Tuyết Đường (thêm chữ Hán) treo ở giữa nhà.
Nay di tích nền nhà Tuyết Đường còn ở ngoài phía nam huyện Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc.

2.  Lâm Cao: Đình Lâm Cao. Khi tác giả mới bị đầy đến Hoàng Châu, tạm trú trong chùa Huệ Thiền. Sư cụ chùa Huệ Thiền mời tác giả ra ở đình Lâm Cao cho tĩnh mịch. Nay đình Lâm Cao vẫn còn, ở phía Nam huyện Hoàng Cương, đi qua đình mới ra bến sông Trường Giang.

3.  Hoàng Nê: Giốc Hoàng Nê ở huyện Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc. Ở đấy có bến sông Hoàng Giang, gọi là bến đò Hoàng Nê.

4.   Tùng Giang chi lư: Cá lô sông Tùng Giang. Sông Tùng Giang ở huyện Tùng Giang, tỉnh Giang Tô, có giống cá lô, mồm to vây nhỏ, có con dài đến 2 thước. Cuối mùa xuân cá lô theo nước thủy triều vào sông, đến mùa thu thì trở về biển nên mùa thu cá lô rất béo. Cá lô là sản phẩm của huyện Tùng Giang, tỉnh Giang Tô.

5   Đẩu tửu : Đấu rượu. Phép đong ngày xưa cứ mười thăng gọi là 1 đấu.

6.  Bằng Di: Tên vị Thủy thần.

7.  Vũ y : Áo bằng lông chim. Sách Thập Di Ký : Đời Chiến Quốc,Yên Chiêu Vương mơ thấy một người mặc xiêm áo cánh loài chim xưng là Vũ nhân (thêm Hán tự) đến cùng vua giảng thuyết tiên thuật. Vì thế đời sau gọi Đạo sĩ là Vũ nhân.

Phụ Chú.

Tiểu sử Tô Thức và giá trị hai bài phú Xích Bích.

Tô Thức tự là Tử Chiêm, quê ở huyện My Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, thơ hay chữ tốt, ham đọc văn chương Giả Nghị nhà Hán và Lục Trì nhà Đường. Đời vua Tống Nhân Tông (1010-1063) Tô 21 tuổi, đến kinh sư ứng thí, Chủ khảo Âu Dương Tu xem bài luận Hình thưởng trung hậu chi chí luận (thêm Hán tự) biết là bậc đại tài, bèn lấy đỗ Tiến sĩ thứ hai, thụ chức Quốc sử Bí thư lang. Đời vua Thần Tông (1068-1085), Vương An Thạch lên làm Tể tướng, đặt ra tân pháp, sưu thuế nặng nề, dân tình ta oán. Tô làm thơ công kích tân pháp, bị An Thạch cách chức đầy ra đất Hoàng Châu, tỉnh Hồ Bắc. Tô đến Hoàng Châu làm nhà ở đất Đông Pha ẩn cư, lấy hiệu là Đông Pha Cư sĩ. Ngày 16 tháng 7 năm nhâm tuất là năm Nguyên Phong thứ 5 (1082) đời vua Thần Tông, Tô cùng với bạn là Dương Thế Xương, hiệu Miên Trúc Đạo sĩ (1), đi chơi thuyền trên sông Xích Bích. Lúc ấy đương mùa nước lớn, mặt sông mênh mông, cuộc chơi rất hào hứng. Tô thích chí gõ vào mạn thuyền mà hát, Miên Trúc đạo sĩ thổi sáo họa theo. Hai người đàm luận những chuyện hưng suy kim cổ, cho vạn vật ở trong vũ trụ đều là ngắn ngủi mà lại vĩnh viễn vô cùng. Khi về Tô làm bài phú Tiền Xích Bích để kỷ niệm cuộc đi chơi.

Đến ngày 15 tháng mười năm ấy, Tô lại cùng Miên Trúc Đạo sĩ và Hoàng Lỗ Trực (2) đi chơi sông Xích Bích. Hồi này tiết trời đông ken, nước sông cạn xiết, bờ sông và sườn núi chìa ra, đường lối đã thay đổi, khác hẳn lần đi chơi trước. Khi về bỗng có con chim hạc lướt qua thuyền bay sang phía tây. Đêm khuya Tô chiêm bao thấy một Đạo sĩ đến nói truyện, tỉnh dậy mới biết chim hạc bay qua thuyền là tiên nhân, bèn làm ra bài phú Hậu Xích Bích.
Vua Triết Tông (1086-1099) xem hai bài phú, khen là kỳ tài, vời Tô về triều phong chức Hàn lâm học sĩ, rồi thăng lên Bộ binh Thượng thư.

Hai bài phú Xích Bích, lời mạnh mẽ phóng khoáng, ý sâu xa thần diệu, thực là nghị luận của đại triết gia, tiêu biểu cho phái Khổng học chịu ảnh hưởng của Lão Trang, đời sau đều phục là tuyệt tác.

Thi nhân đời nhà Minh, Lý Phan Long bàn rằng :
Anh hùng như Tào Tháo, sự nghiệp của Chu Du nay còn thấy đâu. Chỉ có bóng trăng đẹp, dòng nước trong và câu văn bất hủ của Tô Đông Pha muôn đời còn mãi.

Sách Quảng dương tạp ký của Lưu Hiến Đình đời Thanh chép :
Sông Xích Bích chỗ Tô Đông Pha cùng bạn đi chơi ngày trước, nay đã bồi thành lục địa, cách sông Trường Giang rất xa : biển xanh biến thành ruộng dâu, thay đổi chóng thế. Nay ở trên núi Xích Bích thuộc huyện Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc, còn nhô ra một tảng đá lớn sắc đỏ như mũi con voi, vì thế gọi là núi Xích Bích.
Dưới chân núi có đình, trong đình có tượng Đông Pha bằng đá trắng, ở trên treo bức hoành 4 chữ Vạn Cổ Phong Lưu rất lớn do Từ Tử Trinh viết. Phía đông đình có ba gian nhà, trong nhà treo một cái biển sơn thiếp, viết 2 chữ Nhị Phú. Phía nam đình cũng có ba gian nhà, trên vách đề la liệt thơ của danh sĩ, danh nhân các triều đại tán tụng hai bài phú.
Lối đông bắc leo mấy chục bậc đá thì lên gác. Gác này trước bị đổ, đến năm Gia Tĩnh (1523-1567) đời vua Thế Tông nhà Minh được quan Lệnh Hoàng Cương là Mạnh Tân trùng tu lại. Gian giữa gác đề hai chữ Lưu Pha dưới có một tấm bia đá chép nguyên văn hai bài phú Xích Bích do Triệu Tùng Tuyết là danh bút đời nhà nguyên viết. Chung quanh còn đình tạ rất nhiều, đều là chỗ kỷ niệm văn chương sự nghiệp của tác giả hai bài phú, kể ra không thể xiết.

Phụ ghi.

1.   Dương Thế Xương hiệu là Miên Trúc Đạo sĩ, quê ở tỉnh Tứ Xuyên, ẩn cư trong núi Hoàng Cương. Dương là bạn thân với Đông Pha.
2.   Hoàng Đình Cương tự là Lỗ Trực, hiệu Sơn Cốc Đạo nhân, quê ở đất Phần Ninh, đỗ Tiến sĩ, thụ chức Tri Ngạc châu. Hoàng hay thơ, văn chương phóng túng, viết chữ lối thảo rất tốt, cùng với Đông Pha nổi tiếng danh sĩ đương thời. Khi mất học trò tôn tên Thụy  là Văn Tiết Tiên sinh.

DỊCH THƠ:

BÀI PHÚ HẬU XÍCH BÍCH

Bản dịch của Nguyễn Văn Bình

          Ngày mười rằm tháng mười năm ấy
          Từ Tuyết Đường đứng dậy ra đi
          Lâm Cao thẳng lối đường về
          Khách theo qua giốc Hoàng Nê hai người.
          Sương tuyết xuống lá tơi bời rụng
          Dưới bóng người trên bóng trăng cao
          Đoái trông phong cảnh vui sao
          Vừa đi vừa hát nghêu ngao mấy bài.
          Than thở có khách chơi rượu hiếm
          Biết lấy gì chuốc chén vui chung
          Rượu mà có, nhắm cũng không
          Đêm nay gió mát trăng trong cũng hoài.
          Khách rằng : Lúc vừa rồi nhắc vó
          Được cá vào vây nhỏ miệng to
          Tùng Giang tựa giống cá lô
          Biết sao tìm được một vò rượu đây.
          Liền quay lại giãi bầy cùng vợ
          Vợ thưa rằng : Nhà có rượu tăm
          Rượu này cất đã lâu năm
          Dành cho thầy lúc bất thần mua vui.
          Rượu với cá tức thời tay xách
          Lại theo dòng Xích Bích cùng đi
          Sông reo cách bến xưa kia
          Núi cao, trăng nhỏ, nước chìa đá ra.
          Kể ngày tháng nào xa chi mấy
          Mà non sông đã thấy khác nhiều
          Ta liền vén áo trèo leo
          Với non, vạch cỏ, vờn beo, cưỡi rồng.
          Vin tổ cắt, nhòm cung Thủy tế
          Khách chậm chân không thể theo cùng
          Kêu lên một tiếng hãi hùng
          Cỏ cây vang động núi sông ồn ào.
          Ta cũng thấy nao nao ghê rợn
          Lòng chập chờn không muốn ngồi dai
          Xuống thuyền theo nước sông trôi
          Nhởn nhơ một lá chèo bơi đi về.
          Nửa đêm lúc bốn bề im phắc
          Bỗng miền đông chim hạc bay ra
          Cánh xòe tựa bánh xe hoa
          Xiêm đen áo trắng lướt qua nhẹ nhàng.
          Vút đâu tiếng kêu vang vọng xuống
          Vượt thuyền ta theo hướng tây đi
          Đêm khuya khách trở ra về
          Ta vào trong trướng say mê giấc vàng.
          Thấy Đạo sĩ xênh sang khăn áo
          Đến Lâm Cao bèn dạo qua chơi
          Chào ta Đạo sĩ ngỏ lời
          Cuộc chơi Xích Bích có vui chăng là.
          Hỏi tên họ khách đà lúng túng
          Ô là ta biết đúng ngươi rồi
          Lúc đêm bay vút ngang trời
          Qua thuyền ta chẳng ngươi thời còn ai.
          Đạo sĩ mỉm miệng cười không nói
          Ta giật mình cũng vội tỉnh ra
          Đứng lên mở cửa trông qua
          Tuyệt mù nào thấy người đà ở đâu.

 

Bản dịch của c Hà Thượng Nhân

 

 

Hậu Xích Bích Phú

Cùng năm đó, tháng mười, giữa tháng
Từ tuyết đường về ngả lân cao
Có hai ông khách đi theo
Móc sương lã chã, cây đèo xác xơ
Cúi xuống thấy mờ mờ nhân ảnh
Ngẩng lên nhìn vành vạnh trăng cao
Ngắm xem phong cảnh thanh tao
Vừa đi vừa hát vui sao cho cùng !
 Tiếc có khách lại không có rượu
Rượu lại không đồ nhậu, buồn chưa !
 Trăng trong gió mát dang chờ
Khách rằng : ” xẩm tối bất ngờ giăng câu
Tóm ngay được ở đâu chú cá
Giống cá lư dưới chỗ Tùng Giang
Tìm đâu được hũ rượu ngang ?
 Ta bàn với vợ, vợ rằng :”chớ lo”
Tôi vốn có một vò rượu quý
Ðã lâu nay cất kỹ để dành”
Thế rồi rượu cá sắm sanh
Xuôi dòng Xích Bích lại thành cuộc chơi !
 Khúc sông chảy muôn vời sóng nước
Sườn núi cao ngàn thước chênh vênh 
Núi cao trăng sáng mông mênh
Nước ròng, đá núi gập ghềnh phô ra
Ta vén áo dần dà bới cỏ
Ngồi lên trên những chỗ cheo leo
Ngửng trông tổ cắt ngặt nghèo
Cúi nhìn u hiểm thủy triều Bằng ố di
Hai người khách chẳng đi tới được
Tiếng gọi nhau dội ngược cỏ cây
Ta nghe tê tái lòng này
Phập phồng lo sợ ở đây rợn người
Bèn trở lại, thuyền xuôi mặc sóng
Sắp nửa đêm in vắng bốn bề
Chợt nghe chim hạt bay khuya
Lẻ loi, cánh giống bánh xe rộn ràng
Giữa trời rộng kêu vang lảnh lót
Vừa phương Ðông , đã thoát phương Ðoài
Thế rồi khách bỏ mặc ai
Ta lim dim một giấc dài như mơ
Mơ thấy một phơ phơ đạo sĩ
Mặc áo lông từ chỗ lâm cao
Gặp ta người vội vái chào:
“Cuộc chơi Xích Bích thế nao, vui không ?”
 
Hỏi họ tên nhưng ông chẳng nói
Ta biết rồi : vừa mới hôm qua
Tiếng kêu trong vắt gần xa
Cái con chim hạc chính là ông thôi !
Lão đạo sĩ chỉ cười lặng lẽ
Ta giật mình mở cửa nhìn ra
Vắng tanh nào thấy đâu là !

 Sài gòn sáng ngày 25 tháng 5 năm 1985