Archive for August, 2008



Tiền Xích Bích phú

August 29th, 2008

〈前赤壁賦〉

壬戌之秋,七月既望,蘇子與客泛舟遊於赤壁之下。清風徐來,水波不興。舉酒屬客,誦明月之詩,歌窈窕之章。少焉,月出於東山之上,徘徊於斗牛之間。白露橫江,水光接天。縱一葦之所如,凌萬頃之茫然。浩浩乎如馮虛御風,而不知其所止;飄飄乎如遺世獨立,羽化而登仙。

  於是飲酒樂甚,扣舷而歌之。歌曰︰「桂棹兮蘭槳,擊空明兮泝流光。渺渺兮於懷,望美人兮天一方。」客有吹洞蕭者,倚歌而和之,其聲嗚嗚然,如怨如慕,如泣如訴;餘音裊裊,不絕如縷;舞幽壑之潛蛟,泣孤舟之嫠婦。

  蘇子愀然,正襟危坐,而問客曰︰「何為其然也?」客曰︰「月明星稀,烏鵲南飛,此非曹孟德之詩乎?西望夏口,東望武昌。山川相繆,鬱乎蒼蒼;此非孟德之困於周郎者乎?方其破荊州,下江陵,順流而東也,舳艫千裡,旌旗蔽空,釃酒臨江,橫槊賦詩;固一世之雄也,而今安在哉?況吾與子,漁樵於江渚之上,侶魚蝦而友糜鹿,駕一葉之扁舟,舉匏樽以相屬;寄蜉蝣與天地,渺滄海之一粟。哀吾生之須臾,羨長江之無窮;挾飛仙以遨遊,抱明月而長終;知不可乎驟得,托遺響於悲風。」

  蘇子曰︰「客亦知夫水與月乎?逝者如斯,而未嘗往也;盈虛者如彼,而卒莫消長也。蓋將自其變者而觀之,而天地曾不能一瞬;自其不變者而觀之,則物於我皆無盡也。而又何羨乎?且夫天地之間,物各有主。苟非吾之所有,雖一毫而莫取。惟江上之清風,與山間之明月,耳得之而為聲,目遇之而成色。取之無禁,用之不竭。是造物者之無盡藏也,而吾與子之所共適。」

  客喜而笑,洗盞更酌,肴核既盡,杯盤狼藉。相與枕藉乎舟中,不知東方之既白。

 

First Fu (1) on the Ch’ih-pi (Red Cliff) (2)

On the sixteenth of the seventh month, in the fifth year of Yuan-feng (3), I took a trip by boat with some friends to the Ch’ih-pi. The wind was blowing gently; there was not a ripple on the water. I raised my cup and toasted my friends. We recited the poem from the Books of Songs on the ‘Bright Moonlight,’ containing the line on the sedate lady. Shortly after, the moon rose over the eastern mountain and hovered between the Dipper and Aquila. The white dew lay all over the river, and the light reflected in the water reached up to the sky. We let our small boat drift along over the vast expanse ahead of us. Now we seemed to float away, and, freed from this world, to take wing and become immortal.

In this mood, we drank happily and sang, beating out the rhythm with our fingers on the side of the boat:

On a cassia boat, with orchid oars We struck the water, rowing up the river,As the moon shone over the waves. I long For the beauties on the other side of Heaven! (4)

Among my friends there was one who played the flute and who accompanied my song. The sound of the music was melancholy. Now it seemed complaining and yearning; now it seemed weeping and pleading. Even when the song was finished, its reverberations seemed not to die away but lingered on like an unbroken thread. Dragons hiding in the dark ravines would havebeen roused to dance, and widows languishing in their solitary boats would have been moved to tears.

Overcome by sadness, I adjusted my garment, sat up solemnly and asked my friends: ‘Why is it that things are what they are?’ they replied as follows: ‘The moon is bright and the stars are few. Crows and magpies fly southward. ‘Was this not the poetry of Ts’ao Meng-teh (5)? Between Hsiak’ou (6) in the west and Wuch’ang (7) in the east interwined a host of gray mountains and rivers. Was this not the scene of his siege by Chou Yu (8)? When Ts’ao Ts’ao sailed down to Chiangling (9) after overrunning Chingchou (10) and followed the waters of the river eastward, his ships lined up the river for one thousand li (11), and his flags covered the sky. Looking out on the river, he drank copious draughts, and, as he grasped his spear, he composed poetry. He was a great hero in his time, but where is he now? Moreover, now that you and I are fishing and cutting wood on the brink of the river, fish and prawns are our companions, stags, and deer our friends. We row a flat leaf-like boat and drink with one another. We are like tiny insects in a vast world and mere specks in the deep, deep sea. We lament our ephemeral lives and admire the eternal Yangtze. To travel far and wide with roving immortals and embrace the moon till the end of times is something that cannot be achieved. In this certainty, we have left the reverberations of our music to mingle with the sobbing wind.’

‘My friend,’ said I, ‘do you know about the water and the moon? The former goes on and on, but it never comes to an end. The latter waxes and wanes, but it never decreases or increases. If we see everything from its changing aspect, even heaven and earth cannot last for a twinkling of an eye. If we look at everything from its unchanging aspect, it and we can
never end. What is there, then, to be admired?

‘Furthermore, everything on earth has its owner. If a thing is not owned by us, we cannot lay hands on the tiniest part of it. Only the gentle breeze on the river and the bright moon over the mountains feast the ear with sound and the eye with color, and these we can take at perfect liberty and use without exhausting them. These are the unlimited reserves of the Creator, which you and I can enjoy together.’

My friends were gratified and smiled. We washed our cups and resumed our drinking. When all the food was consumed and the cups and dishes were scattered around, we lay in complete disorder till dawn came up the east and took us unawares.

SU SHIH
(TR: SHIH SHUN LIU)

(1)_ Rhymed or partly rhymed prose.
(2)_ A mountain in Huangkang Hsien, Hupeh, intentionally or unintentionally confused with another of the same name, situated in Chiayu Hsien, where Ts’ao Ts’ao was disastously defeated by the combined forces of Shu and Wu during the Three Kingdoms period.
(3)_ Reign of emperor Shen-tsung of the Sung dynasty, 1068-1085, the fifth year of Yuan-feng (1078-1085)
being 1082.
(4)_ The allusion was to high officials in the capital.
(5)_ Courtesy name of Ts’ao Ts’ao, the emperor of Wei, another one of the Three Kingdoms, who was one of the most active political figures in his time.
(6)_ Modern Hankow, a city in Hupeh Province.
(7)_ Wuch’ang Hsien, Hupeh.
(8)_ A famous general of the state of Wu.
(9)_ Chiangling Hsien, Hupeh.
(10)_ Prefecture in Hupeh.
(11)_ Each equivalent to one-third of a mile.

TIỀN XÍCH BÍCH PHÚ

Nhâm tuất chi thu, thất nguyệt kí vọng, Tô Tử dữ khách phiếm du chu ư Xích Bích chi hạ. Thanh phong từ lai, thủy ba bất hưng, cử tửu chúc khách, tụng Minh Nguyệt chi thi, ca Yểu Ðiệu chi chương. Thiểu yên, nguyệt xuất ư đông sơn chi thượng, bồi hồi ư đẩu ngưu chi gian; bạch lộ hoành giang, thủy quang tiếp thiên. Túng nhất vĩ chi sở như, lăng vạn khoảnh chi mang nhiên. Hạo hạo hồ như bằng hư ngự phong, nhi bất tri kỳ sở chỉ; phiêu phiêu hồ như di thế độc lập, vũ hóa nhi đăng tiên. Ư thị ẩm tửu lạc thậm, khấu huyền nhi ca chi. Ca viết:

Quế trạo hề lan tương,
Kích không minh hề tố lưu quang.
Diểu diểu hề dư hoài,
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương.

Khách hữu xúy đỗng tiêu giả, ỷ ca nhi họa chi; kỳ thanh ô ô nhiên, như oán như mộ, như khấp như tố, dư âm niểu niểu bất tuyệt như lũ. Vũ u hác chi tiềm giao, khấp cô chu chi ly phụ. Tô Tử sậu nhiên chính khâm, nguy tọa nhi vấn khách viết:

— Hà vi nhiên dã?

Khách viết:

— “Nguyệt minh tinh hi, ô thước nam phi”, thử phi Tào Mạnh Ðức chi thi hồ? Tây vọng hạ khẩu, đông vọng Vũ Xương, sơn xuyên tương liễu, uất hồ thương thương, thử phi Mạnh Ðức chi khốn ư Chu Lang giả hồ? Phương kỳ phá Kinh Châu, hạ Giang Lăng, thuận lưu nhi đông dã, trục lô thiên lí, tinh kỳ tế không, sỉ tửu lâm giang, hoành sáo phú thi, cố nhất thế chi hùng dã, nhi kim an tại tai? Huống ngô dữ tử, ngư tiều ư giang chử chi thượng, lữ ngư hà nhi hữu mi lộc, giá nhất diệp chi thiên chu, cử bào tôn dĩ tương chúc, ký phù du ư thiên địa, diểu thương hải chi nhất túc, ai ngô sinh chi tu du, tiện trường giang chi vô cùng, hiệp phi tiên dĩ ngao du, bão minh nguyệt nhi trường chung. Tri bất khả hồ sậu đắc, thác di hưởng ư bi phong!

Tô Tử viết:

— Khách diệc tri phù thủy dữ nguyệt hồ? Thệ giả như tư, nhi vị thường vãng dã; doanh hư giả như bỉ, nhi tốt mạc tiêu trưởng dã. Cái tương tự kỳ biến giả nhi quan chi, tắc thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn. Tự kỳ bất biến giả nhi quan chi, tắc vật dữ ngã giai vô tận dã, nhi hựu hà tiện hồ? Thả phù thiên địa chi gian, vật các hữu chủ, cẩu phi ngô chi sở hữu, tuy nhất hào nhi mạc thủ. Duy giang thượng chi thanh phong dữ sơn gian chi minh nguyệt, nhĩ đắc chi nhi vi thanh, mục ngộ chi nhi thành sắc, thủ chi vô cấm, dụng chi bất kiệt, thị tạo vật giả chi vô tận tạng dã, nhi ngô dữ tử chi sở cộng thích. Khách hỉ nhi tiếu, tẩy trản cánh chước. Hào hạch ký tận, bôi bàn lang tạ, tương dữ chẩm tạ
hồ chu trung, bất tri đông phương chi ký bạch.

TÔ ÐÔNG PHA

DỊCH NGHĨA:

BÀI PHÚ TIỀN XÍCH BÍCH

Ngoài rằm tháng bảy mùa thu năm Nhâm Tuất [1], Tô Tử cùng với khách bơi thuyền chơi ở dưới núi Xích Bích [2]. Hây hây gió mát, sóng lặng như tờ, cầm chén rượu lên mời khách, đọc bài thơ Minh Nguyệt và hát một chương Yểu Ðiệu [3]. Một lát, mặt trăng mọc lên trên núi Ðông Sơn [4], đi lững thững trong khoảng hai sao ngưu, đẩu [5]. Khi đó sương tỏa trên mặt sông, vẻ nước trong tiếp đến chân trời. Tha hồ cho một chiếc thuyền nhỏ đi đâu thì đi, vượt qua trên mặt nước mênh mông muôn khoảnh. Nhẹ nhàng như cởi gió đi trên không mà không biết là đi đến đâu; hớn hở sung sướng như người quên đời đứng một mình, mọc cánh mà bay lên tiên. Vì thế uống rượu vui lắm, rồi gõ vào mạn thuyền mà hát. Hát rằng:

Thung thăng thuyền quế chèo lan,
Theo vầng trăng tỏ vượt làn nước trong. [6]
Nhớ ai canh cánh bên lòng,
Nhớ người quân tử [7] ngóng trông bên trời.

Trong bọn khách có một người thổi ống sáo, bèn theo bài ca của ta mà họa lại. Tiếng sáo não nùng rên rỉ như sầu như thảm, như khóc như than. Tiếng dư âm vẫn còn lanh lảnh, nhỏ tít như sợi tơ chưa dứt. Làm cho con giao long ở dưới hang tối cũng phải múa mênh, người đàn bà thủ tiết ở một chiếc thuyền khác [8] cũng phải sụt sùi.

Tô Tử buồn rầu sắc mặt, thu vạt áo, ngồi ngay ngắn mà hỏi khách rằng:

— Làm sao lại có tiếng não nùng làm vậy?

Khách đáp rằng:

— Câu “Minh nguyệt tinh hi, ô thước nam phi” [9] chẳng phải là câu thơ của Tào Mạnh Ðức đó ru? [10] Ðương khi Tào Mạnh Ðức phá đất Kinh Châu [11], xuống thành Giang Lăng [12], thuận dòng mà sang mặt đông, tàu bè muôn dặm, cờ tán rợp trời, rót chén rượu đứng trên mặt sông, cầm ngang ngọn giáo ngâm câu thơ, đó thực là anh hùng một thời, mà nay thì ở đâu? Huống chi tôi với bác đánh cá, kiếm củi ở trên bến sông này, kết bạn cùng tôm cá, chơi bời với hươu nai, bơi một chiếc thuyền nho nhỏ, nhấc chén rượu để mời nhau, gởi thân phù du ở trong [13], trời đất xem ta nhỏ nhặt như một hạt thóc ở trong biển xanh, thương cho sự sống của ta không bao lâu mà khen cho con sông này dài vô cùng [14]. Vậy mà muốn dắt tiên bay để chơi cho sung sướng, ôm lấy vầng trăng tỏ mà sống mãi ở đời. Tôi biết không làm sao được như vậy cho nên mới nảy ra tiếng rầu rĩ ở trong cơn gió thoảng!
Tô Tử nói:

— Vậy thế bác có biết nước và mặt trăng không? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ; mặt trăng khi tròn khi khuyết như vậy mà chưa từng thêm bớt bao giờ. Bởi vì ta tự ở nơi biến đổi mà xem ra thì cuộc trời đất cũng chỉ trong một cái chớp mắt; mà nếu tự ở nơi không biến đổi mà xem ra thì muôn vật cùng với ta đều không bao giờ hết cả; cần gì phải khen đâu! Vả lại ở trong trời đất, vật nào có chủ ấy, nếu không phải là của ta thì dẫu một ly ta cũng không lấy. Chỉ có ngọn gió mát ở trên sông cùng vầng trăng sáng ở trong núi, tai ta nghe nên tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy không ai cấm, dùng không bao giờ hết, đó là kho vô tận của tạo hóa mà cũng là cái vui chung của bác với tôi.

Khách nghe vậy, mừng mà cười, rửa chén lại, rót rượu uống lần nữa. Khi đồ nhắm hoa quả đã khan, mâm bát bỏ ngổn ngang, cùng nhau gối đầu ngủ [15] ở trong thuyền, không biết vầng đông đã sáng bạch tự lúc nào.

PHAN KẾ BÍNH dịch

CHÚ THÍCH:

[1]. Tức là năm thứ tư niên hiệu Nguyên Phong, đời Tống Thần Tông (1082); năm đó Tô Thức 46 tuổi.
[2]. Xích Bích là tên một dảy núi ở huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc, trên bờ sông Dương Tử. Năm thứ 13
niên hiệu Kiến An (208) Tào Tháo tự đất Giang Lăng đuổi đánh Lưu Bị; Bị cầu cứu tôn Quyền. Tướng Quyền là Chu Du dùng hỏa công đánh, thuyền của Tháo bị cháy sạch, quân Tào thua to. Hai bên bờ sông vì lửa đốt thành sắc đỏ, nên gọi là Xích Bích (vách đỏ). Tô Ðông Pha một lần bị trích ở đất Hoàng Châu. Hoàng Châu nay là huyện Hoàng Cương, cũng ở Hồ Bắc, nhưng ở về phía đông và cách xa huyện Gia Ngư. Ở Hoàng Châu có một dãy núi sắc đá đỏ, cũng gọi là Xích Bích. Ông Tô đi chơi ở dưới dãy núi ấy, làm ra bài phú này. Nhân vì trùng tên nên ông nhớ đến việc Tào Tháo, Chu Du ngày xưa mà nói đến trong bài (chú thích của Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu).
[3]. Thơ Minh Nguyệt tức thiên Nguyệt xuất, trong mục Trần phong ở Kinh Thi. Chương Yểu Ðiệu là
chương đầu thiên Nguyệt xuất.
[4]. Theo Cổ Văn Quan Chỉ thì núi ở phía đông.
[5]. Ngưu, đẩu là tên hai ngôi sao.
[6]. Nguyên văn có nghĩa là: đập vào ánh trăng ở trên nước (không minh) mà đi ngược dòng sáng (lưu
quang), tức dòng sông có ánh trăng chiếu vào.
[7]. Nguyên văn: mỹ nhân trỏ người quân tử ở triều.
[8]. Nguyên văn là chiếc thuyền cô quạnh.
[9]. Nghĩa là: trăng sáng sao thưa, quạ bay về nam.
[10]. Tào Mạnh Ðức tức Tào Tháo. Tháo kéo quân xuống đánh Giang Ðông, đóng trên sông Xích Bích,
nửa đêm trăng sáng, uống rượu say rồi cầm ngang ngọn giáo, đứng đầu thuyền hát một bài, trong đó có câu ấy.
Tới đây Phan Kế Bính đã bỏ, không dịch một câu mà nghĩa như vầy: “Phía tây trông sang Hạ Khẩu, phía
đông ngó sang Vũ Xương, sông núi uốn khúc, vây nhau, cây cối xanh tươi, um tùm; đó chẳng phải là nơi Tào Mạnh Ðức bị khốn với Chu Lang ư?”
Hạ Khẩu nay là Hán Khẩu ở Hồ Bắc, Vũ Xương cũng ở Hồ Bắc. Chu Lang tức Chu Du.
Chu Du bàn mưu với Gia Cát Lượng, dùng kế hỏa công đại phá quân Tào Tháo ở sông Xích Bích.
[11]. Kinh Châu: nay ở tỉnh Hồ Nam.
[12]. Theo thiển ý của chúng tôi, chấm câu như vầy có phần đúng hơn: “gởi thân phù du ở trong trời đất, nhỏ nhặt như một hạt thóc trong biển xanh.”
[13]. Dịch là “thèm cái lâu dài của con sông này” thì có phần đủ nghĩa hơn.
[14]. Dịch là “gối đầu lên nhau mà ngủ” thì có phần rõ hơn.

DỊCH THƠ:

BÀI PHÚ TIỀN XÍCH BÍCH

Năm Nhâm Tuất qua rằm tháng bảy,
Ông Tô công cùng mấy người quen,
Trên sông Xích Bích con thuyền,
Gió hiu hiu thổi, sóng êm êm dừng.
Cuộc mời khách tay nâng chén rượu,
Thơ Nguyệt minh Yểu điệu ngâm rền,
Non đông chợt thấy sáng lên,
Vầng trăng lơ lửng giữa chiền đẩu ngưu.
Móc ngang sông phau phau làn trắng,
Nước in trời loang loáng vẻ xanh,
Buông theo chiếc lá lênh đênh,
Ðè muôn đợt sóng mông mênh cõi ngoài.
Lồng lộng tựa lưng trời cỡi gió,
Mà biết rằng dừng đỗ nơi nao,
Nhởn nhơ thoát tục lên cao,
Hóa ra lông cánh bay vào cõi tiên.
Vui vẻ rượu nhắp liền mấy chén,
Gõ nhịp thuyền cất tiếng hát ran,
Hát rằng: “Chèo quế buồm lan,
Ðập tung ánh sáng, miết lên ngược dòng.
Xa thăm thẳm chạnh lòng tưởng nhớ,
Trông mỹ nhân cách trở phương trời.”
Khách liền thổi sáo họa bài,
Vo vo tiếng sáo như người khóc than.
Như mến tiếc căm hờn mọi nỗi,
Giọng ngân dài tựa mối tơ vương.
Hang sâu quằn quại thuồng luồng,
Thảm tình gái góa thuyền xuông sụt sùi.
Ông Tô xốc áo ngồi chỉnh chệ,
Hỏi khách sao buồn thế này ư?
Khách rằng: “Trăng sáng sao thưa,
Ðàn chim ô thước lững lờ về nam”.
Câu thơ ấy ai làm thủa trước,
Chẳng phải Tào Mạnh Ðức đó không?
Vũ Xương, Hạ Khẩu tây đông,
Nước non quanh quất mấy trùng xanh xanh.
Ấy chẳng phải Tào binh thuở nọ,
Bị Chu Lang đánh đổ đấy không?
Kinh Châu vừa mới phá xong,
Giang Lăng đạp đổ thuận sông xuôi thuyền.
Sông nghìn dặm chật liền tàu chiến,
Trời bốn phương che kín bóng cờ.
Giữa vời lọc rượu nhởn nhơ,
Quay ngang ngọn giáo ngâm thơ một bài.
Anh hùng nhất trên đời lừng lẫy,
Mà bây giờ nào thấy ở đâu,
Huống ta vớt củi buông câu,
Lứa đôi tôm cá, bạn bầu hươu nai.
Thuyền một lá vui chơi chèo chống,
Rượu lưng bầu êm giọng chuốc luôn.
Xác vờ gởi mặc kiền khôn,
Tẻo teo hạt thóc trong cồn bể xanh.
Thoáng một chốc kiếp sinh là mấy,
Khen con sông nước chảy khôn cùng.
Cắp tiên chơi chốn non Bồng,
Tay ôm chị nguyệt những mong trọn đời.
Biết không thể vật nài thế được,
Giọng buồn ngâm gởi trước gió bay.”
Ông Tô rằng: “Khách có hay,
Kìa kìa nước ấy trăng này đó không?
Nước kia vẫn xuôi dòng chảy xiết,
Mà chưa từng đi hết chút nao.
Trăng kia có lúc đầy hao,
Mà ta chưa thấy khi nào bớt thêm.
Cứ lúc biến mà xem trời đất,
Thì chẳng qua chớp mắt mà thôi.
Cứ khi không biến mà coi,
Thì ai ai cũng lâu dài như nhau.
Vả thử ngẫm trong bầu vũ trụ,
Có vật gì không chủ đâu mà.
Vật gì chẳng phải của ta,
Dẫu từ một mảy chớ hòa nhúng tay.
Chỉ trên nước hây hây gió thổi,
Với sườn non vòi vọi trăng treo,
Tai nghe văng vẳng tiếng reo,
Mắt trông thấp thoáng có nhiều vẻ tươi.
Mặc sức lấy nào ai dám giữ,
Tha hồ tiêu vẫn cứ chứa chan,
Của trời kho đụn vô vàn,
Mà đôi ta hãy chơi tràn là vui.
Khách mừng rỡ miệng cười tay rót,
Nhắm cạn rồi mâm bát ngổn ngang,
Kề lưng dựa gối trong khoang,
Quá say nào biết đã tang tảng ngày.

ÐÀO NGUYÊN PHỔ dịch

Trích: ‘Cổ văn Trung quốc’ của Nguyễn hiến Lê. Tao Đàn xuất bản.

THIÊN HẠ [44]

August 16th, 2008

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG BỐN MƯƠI BỐN

名與身孰親?身與貨孰多?得與亡孰病?是故,甚愛必大費,多藏必厚亡。知足不辱,知止不殆,可以長久。

PINYIN

míng yǔ shēn shú qīn ?shēn yǔ huo shú duō ?dé yǔ wáng shú bìng ?shì gù ,shén ài bì dàfèi ,duō cáng bì hòu wáng 。zhī zú bù rǔ ,zhī zhǐ bù dài ,kěyǐ chángjiǔ 。

PHIÊN ÂM

Danh dữ thân thục thân ? thân dữ hóa thục đa ? đắc dữ vong thục bệnh ? thị cố, thậm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong. Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi, khả dĩ trường cửu.

ANH NGỮ

daotechingAs for your name and your self, which is the dearer?
As for your self and your wealth, which is the more to be prized?
As for gain or loss, which is more painful?
Thus, extreme love leads to great cost.
Much storage leads to heavy loss.
To know when to have enough is to be immune from disgrace.
To know when to stop is to be preserved from danger.
Only thus can you last long.

Translated by Tien Cong Tran,
Book of Laozi

DỊCH NGHĨA

Danh tiếng với sinh mệnh cái nào quý? Sinh mệnh với của cải cái nào quan trọng?
Được danh lợi mà mất sinh mệnh, cái nào hại? Cho nên ham danh quá thì phải hao tổn nhiều, chứa của cải nhiều thì mất mát nhiều. Biết thế nào là đủ (tri túc) thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy mà có thể sống lâu được.

LỜI BÀN

Chương này khuyên chúng ta “khinh vật quý sinh” như Dương Chu. Tri túc là thái độ chung của đa số các triết gia Trung Hoa, có thể nói của dân tộc Trung Hoa nữa. Nó là điều kiện cốt yếu của hạnh phúc. Chúng ta nhớ những châm ngôn: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc? (Biết thế nào là đủ thì sẽ thấy đủ, đợi cho có đủ thì bao giờ mới đủ) và “Nhân dục vô nhai, hồi đầu thị ngạn” (Lòng dục của con người không có bờ bến, nhưng nếu nhìn lại phía sau mình thì đó là bờ bến đấy).

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

THIÊN HẠ [43]

August 16th, 2008

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG BỐN MƯƠI BA

天下之至柔,馳騁天下之至堅。無有入無間。吾是以知無為之有益。不言之教,無為之益,天下希及之。

PINYIN

tiānxià zhī zhì róu ,chíchěng tiānxià zhī zhì jiān 。wú yǒu rù wú jiān 。wú shì yǐ zhī Wúwèi zhī yǒuyì 。bù yán zhī jiào ,Wúwèi zhī yì ,tiānxià xījí zhī 。

PHIÊN ÂM

Thiên hạ chi chí nhu, trì sính thiên hạ chi chí kiên. Vô hữu nhập vô gian. Ngô thị dĩ tri vô vi chi hữu ích. Bất ngôn chi giáo. Vô vi chi ích, thiên hạ hi cập chi.

ANH NGỮ

daotechingThe softest in the world surpasses the hardest in the world.
Only Nothing can enter into no-space.
Hence, I know the advantages of non-doing.
The teaching of no-word, the beneficial of non-doing, – a very few in the world know.

Translated by Tien Cong Tran
Book of Laozi

DỊCH NGHĨA

Trong thiên hạ, cái cực mềm thì chế ngự được cái cực cứng [như nước xoi mòn được đá]; cái “không có” lại len vô được không có kẽ hở [như không khí len vô được những chất đá, gỗ cứng mà trông bề ngoài ta không thấy kẽ hở]
Do đó mà tôi biết “vô vi” là có ích. Dạy mà không dùng lời, cái ích lợi của vô vi, người đời ít ai hiểu kịp.

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải