Archive for January, 2008



Tóm tắt ngữ pháp Hán ngữ cổ đại

January 26th, 2008

Lê Anh Minh

 

PHẦN I – TỔNG QUAN

I. Đặc điểm của từ vựng Hán ngữ cổ đại:        

1. Từ cổ đại đa số là đơn âm tiết, từ hiện đại thường là song âm tiết (cũng có một số ít từ đa âm tiết).

Thí dụ (cổ đại / hiện đại):

 

* Gắn thêm một âm tiết vào trước hoặc sau từ cổ đại (ý nghĩa không đổi):

 

 sư 師 / lão sư 老師 (thầy giáo); di 姨 / a di 阿姨 (dì); trác 桌 / trác tử 桌子 (cái bàn); thạch 石 / thạch đầu 石頭 (đá); nữ 女 / nữ nhi 女兒 (con gái); nguyệt 月 / nguyệt lượng 月亮 (mặt trăng); mi 眉 / mi mao 眉毛 (chân mày); học 學 / học tập 學習 (học); tư 思 / tư khảo 思考 (suy nghĩ); mỹ 美 / mỹ lệ 美麗 (đẹp); nguy 危 / nguy hiểm 危險 (nguy hiểm); v.v…

 

* Dùng từ khác hẳn (diễn tả cùng một ý nghĩa): Thí dụ

(cổ đại / hiện đại): nhật 日 / thái dương 太陽 (mặt trời); duyệt 悅 / cao hứng 高興 (vui); dịch 弈 / hạ kỳ 下棋 (đánh cờ); quan 冠 / mạo tử 帽子 (cái nón); v.v…

 

2. Từ cổ có ý nghĩa khác với từ hiện nay:

Thí dụ (cổ đại / hiện đại):

Địa phương sổ thiên lý 地方數千里 (diện tích vài ngàn dặm / nơi đó [xa] vài ngàn dặm)

Kỳ thực vị bất đồng 其實味不同 (quả của nó có vị khác / thực tế, vị nó khác)

 

3. Từ xưa nay không còn dùng: Từ xã tắc 社稷 (ám chỉ quốc gia) nay không còn dùng nữa.

 

II. Ý nghĩa của từ và phạm vi sử dụng biến đổi từ cổ đại đến hiện đại:

1. Chuyển nghĩa:

Từ khoái 快 nghĩa xưa là «xứng ý, vui thích»; nghĩa nay là «nhanh chóng».

Từ hi sinh 犧牲 nghĩa xưa là «các gia súc (trâu, lợn, dê, …) đem đi cúng tế»; nghĩa nay là «xả bỏ sinh mạng vì một chính nghĩa hay lý tưởng nào đó».

 

2. Phạm vi cụ thể sang phạm vi tổng quát:

Từ 河 xưa ám chỉ «sông Hoàng Hà», nay chỉ chung chung là «sông».

Từ Trung Quốc 中國 xưa ám chỉ khu vực trung nguyên, nay ám chỉ cả nước Trung Quốc.

 

3. Phạm vi tổng quát sang phạm vi cụ thể:

Từ cốc 榖 (谷) xưa ám chỉ chung «ngũ cốc», nay ám chỉ «lúa gạo» (đạo cốc 稻穀).

 

4. Sắc thái tình cảm thay đổi:

Từ khả lân (liên) 可憐 xưa nghĩa là «hết sức khả ái», nay là «đáng thương xót».

Từ tỳ bỉ 卑鄙 xưa nghĩa là «địa vị thấp thỏi, kiến thức hẹp hòi», nay nghĩa là «phẩm chất xấu ác».

 

III. Hiện tượng giả tá:

 

Giả tá là rắc rối cố hữu của Hán ngữ cổ đại. Học giả đời Thanh là Du Việt 俞樾 từng nhắc nhở độc giả rằng: «Độc cổ nhân thư, bất ngoại hồ chính cú đậu, thẩm tự nghĩa, thông cổ văn giả tá. Nhi tam giả chi trung, thông giả tá vưu yếu.» 讀古人書不外乎正句讀審字義通古 文假借而三者之中通假借尤要 (Đọc sách người xưa [cần chú ý] không ngoài [ba điều]: Đọc đúng [phạm vi] câu văn [tức là ngắt câu cho đúng bởi cổ văn viết không chấm câu, gọi là bạch văn 白文], tra xét đúng nghĩa chữ, và tinh thông chữ giả tá trong cổ văn. Trong ba điều ấy, tinh thông giả tá là tối quan trọng).

 

1. Hiện tượng thông giả (mượn dùng thông với):

Nói chung, nếu hai từ có ý nghĩa và âm đọc gần giống nhau thì cổ nhân có thể mượn từ này thay cho từ kia. Thí dụ phản 反 thông với phản 返 , tri 知 thông với trí 智 , v.v… Hiện tượng thông giả đều dựa trên âm đọc, nếu hai từ A và B không liên quan với nhau về âm thanh (âm đọc) thì chúng không phải là thông giả. Đôi khi một từ có thể thông với nhiều từ khác: Từ tịch 辟 (vua, triệu vời, trừng phạt) thông với các từ: tỵ 避 (tránh), tịch 闢 (khai mở, bài trừ), tịch (không thành thực). Tuỳ theo ngữ cảnh mà ta hiểu và dịch cho đúng.

 

2. Hiện tượng giả tá (mượn dùng):

Nói chung, nếu hai từ có âm đọc gần giống nhau tuy ý nghĩa khác nhau thì cổ nhân có thể mượn từ này thay cho từ kia.

 Thí dụ:

thệ 逝 (chết) là giả tá của thệ 誓 (thề nguyền),

nữ 女 (con gái) là giả tá của nhữ 汝 (mi, ngươi),

thuyết 說 (nói) là giả tá của duyệt 悅 (vui vẻ), v.v…

 

Nếu A là giả tá của B thì ta đọc câu văn với ý nghĩa của B.

Thí dụ: Hữu bằng tự viễn phương lai bất duyệt diệc hồ? 有朋自遠方來不說亦乎 (Có bạn từ phương xa đến chẳng phải là không vui hay sao?). Ở đây chữ 說 phải đọc là duyệt, không đọc là thuyết.

Do hiện tượng giả tá này, khi đọc Hán ngữ cổ đại ta phải dùng từ điển Hán ngữ cổ đại, thì may ra mới hiểu đúng văn bản.

 

IV. Hiện tượng từ đa âm đa nghĩa:

 

Một từ có thể đa âm và đa nghĩa. Đây là hiện tượng chung của các ngôn ngữ, không riêng gì Hán ngữ cổ đại hay hiện đại. Thí dụ từ 數 có hai âm Hán Việt là «số» và «sổ», về Hán âm thì có 4 âm: /shù/ (số đếm; số lượng; vài lần; tướng số, thuật số; phương thuật, đạo thuật; số mệnh), /shǔ/ (liệt kê; kể lể tội lỗi), /shuò/ (lớp lang, tầng lớp), /cù/ (nhỏ nhặt kín đáo).

 

V. Sự hoạt dụng:

 

Hoạt dụng là sự biến đổi ý nghĩa của một từ theo chức năng của nó trong ngữ cảnh cụ thể, thông thường là sự chuyển từ loại (như danh từ sang động từ, v.v…). Ý nghĩa của từ biến đổi, nhưng hiện tượng này khác với hiện tượng từ đa âm đa nghĩa.

 

1. Hoạt dụng của danh từ:

 

Danh từ nhận 刃 (mũi dao) thành động từ (đâm chết ai, giết ai bằng dao). Thí dụ: Tả hữu dục nhận Tương Như. 左右欲 相如 (Quân sĩ bên trái và bên phải muốn đâm chết Tương Như.)

 

* Danh từ biến thành động từ với cách dùng «sử động»:

Danh từ tướng (tướng quân) biến thành động từ (làm tướng, phong làm tướng) trong thí dụ: Tề Uy vương dục tướng Tôn Tẫn. 齊威王欲 孫臏 (Vua Uy nước Tề muốn phong Tôn Tẫn làm tướng.)

 

* Danh từ biến thành động từ với cách dùng «ý động»:

Danh từ khách (người khách) biến thành động từ (đối đãi như khách) trong thí dụ: Mạnh Thường Quân khách ngã. 孟嘗君 (Mạnh Thường Quân xem ta là khách.)

 

2. Hoạt dụng của tính từ:

 

* Tính từ biến thành động từ với cách dùng «sử động»:

Tính từ phú quý 富貴 (giàu sang) biến thành động từ (làm cho giàu sang) trong thí dụ: Năng phú quý tướng quân giả, thượng dã. 富貴 將軍者上也 (Người có thể làm cho tướng quân giàu sang chính là hoàng thượng đó.)

 

* Tính từ biến thành động từ với cách dùng «ý động»:

Tính từ dị (khác lạ) biến thành động từ (thấy cái gì lạ lùng đáng kinh ngạc) trong thí dụ: Ngư nhân thậm dị chi. 漁人甚 (Ông chài rất kinh ngạc về nó.)

 

VI. Sử động & ý động dụng pháp:

 

Khái niệm «sử động» 使動 và «ý động» 意動 được nêu ra lần đầu kể từ năm 1922, trong Quốc Văn Pháp Thảo Sáng 國文法草創 của Trần Thừa Trạch 陳承澤 (bấy giờ ông dùng thuật ngữ «trí động» 致動 và «ý động» 意動 ). Ngay sau đó giới nghiên cứu ngữ pháp của Trung Quốc nhanh chóng công nhận hai khái niệm «sử động» (hay «trí động») và «ý động» này. Cách dùng «sử động» và «ý động» rất thường thấy trong Hán ngữ cổ đại. Thực chất, sử động và ý động là sự hoạt dụng (dùng linh hoạt) của danh từ, tính từ, và động từ tác động vào một tân ngữ kế sau nó. Sử động (giống như causative form của tiếng Anh) ngụ ý «khiến cho ai/cái gì trở nên thế nào/ra sao». Còn ý động là sự hoạt dụng (=chuyển từ loại) biến danh từ hay tính từ trở thành động từ, tác động vào tân ngữ kế sau nó, ngụ ý «xem nó /là gì/như thế nào/ra sao». Động từ không có ý động dụng pháp.

 

1. Sử động dụng pháp:

 

a/ Sử động của động từ:

 

– Động từ ẩm 飲 (uống) trở thành «mời ai uống» (đọc là ấm).

Thí dụ: Tấn hầu ấm Triệu Thuẫn tửu. 晉侯 趙盾酒 (Tấn hầu mời Triệu Thuẫn uống rượu.)

 

– Động từ thực 食 (ăn) trở thành «cho ai ăn» (đọc là tự).

Động từ kiến 見 (thấy) trở thành «làm cho ai thấy; sai ai ra trình diện» (đọc là hiện).

Thí dụ: Chỉ Tử Lộ túc, sát kê vi thử nhi tự chi, hiện kỳ nhị tử yên. 止子路宿, 殺雞為黍而 之, 其二子焉 ([Ông ta] giữ Tử Lộ ở lại nghỉ qua đêm, giết gà làm cơm thết đãi, rồi sai hai đứa con của mình ra trình diện Tử Lộ.)

 

– Động từ hoạt 活 (sống) trở thành «làm cho ai sống».

Thí dụ: Hạng Bá sát nhân, thần hoạt chi. 項伯殺人, 臣 之 (Hạng Bá giết người, thần làm cho kẻ đó sống lại.)

b/ Sử động của danh từ:

Nói chung, danh từ biến thành động từ trong sử động dụng pháp.

– Danh từ sinh 生 (sự sống) trở thành động từ (làm cho sống, làm sống lại).

 Danh từ nhục 肉 (thịt) biến thành động từ (bồi đắp thịt).

 Thí dụ: Tiên sinh chi ân, sinh tử nhi nhục cốt dã. 先生之恩, 死而 骨也 (Ân đức của ngài quả là làm cho kẻ chết sống lại và làm cho xương khô được bồi đắp thịt trở lại.)

 

c/ Sử động của tính từ:

Nói chung, tính từ biến thành động từ trong sử động dụng pháp.

 

– Tính từ lục 綠 (xanh lá cây) trở thành động từ (làm cho xanh).

Thí dụ: Xuân phong hựu lục giang nam ngạn. 春風又 江南岸 (Gió xuân khiến cho bờ sông phía nam thêm xanh.)

 

– Tính từ nhược 弱 (yếu) trở thành động từ (làm cho yếu).

Thí dụ: Chư hầu khủng cụ, hội minh nhi mưu nhược Tần. 諸侯恐懼會盟而謀 秦 (Các nước chư hầu sợ hãi, bèn hợp lại, liên minh mưu tính làm suy yếu nước Tần.)

 

2. Ý động dụng pháp:

 

a/ Ý động của danh từ:

– Danh từ khách (người khách) biến thành động từ (đối đãi như khách, xem là khách).

Thí dụ: Mạnh Thường Quân khách ngã. 孟嘗君 我 (Mạnh Thường Quân xem ta là khách.)

 

b/ Ý động của tính từ:

 

– Tính từ dị (khác lạ) biến thành động từ (thấy cái gì lạ lùng đáng kinh ngạc).

Thí dụ: Ngư nhân thậm dị chi. 漁人甚 (Ông chài thấy nó rất lạ lùng.)

 

– Tính từ tiểu (nhỏ) biến thành động từ (thấy cái gì nhỏ bé).

Thí dụ: Khổng Tử đăng Đông sơn nhi tiểu Lỗ, đăng Thái sơn nhi tiểu thiên hạ. 孔子登東山而 魯, 登泰山而 天下 (Khổng Tử lên núi Đông thì thấy nước Lỗ nhỏ bé, lên núi Thái thì thấy thiên hạ nhỏ bé.)

 

– Tính từ nhược 弱 (yếu) biến thành động từ (xem cái gì là yếu);

tính từ viễn (xa) biến thành động từ (xem cái gì là xa).

Thí dụ: Lỗ nhược Tấn nhi viễn Ngô. 魯 晉而 吳 (Nước Lỗ thấy nước Tấn là suy yếu và thấy nước Ngô là ở xa.)

 

Chú ý (I): Tính từ được dùng theo sử động hay ý động là tuỳ theo ngữ cảnh. Sự phân biệt này khá tinh tế, bởi vì cấu trúc của cả hai đều là «tính từ (dùng như động từ) + tân ngữ». Nói chung, với sử động dụng pháp, tính từ biến thành động từ tác động vào tân ngữ, khiến nó như thế nào. Còn ý động dụng pháp ngụ ý một sự nhận định (đánh giá/nhận xét) của chủ ngữ đối với tân ngữ. Do đó nó mang tính chủ quan.

 

* Thí dụ 1:

 Viễn 遠 + tân ngữ.

(a) Theo sử động dụng pháp là «cách xa ra».

Thí dụ: Kính quỷ thần nhi viễn chi 敬鬼神而(Kính quỷ thần nhưng cách xa họ ra).

(b) Theo ý động dụng pháp là «nhận thấy xa xôi».

Thí dụ: Lỗ nhược Tấn nhi viễn Ngô. 魯 晉而 吳 (Nước Lỗ thấy nước Tấn là suy yếu và thấy nước Ngô là ở xa.)

 

* Thí dụ 2:

 Mỹ 美 + tân ngữ.

(a) Theo sử động dụng pháp là «làm cho tốt đẹp».

Thí dụ: Quân tử chi học dã dĩ mỹ kỳ thân. 君子之學也以其身 (Cái học của người quân tử là để làm cho bản thân mình trở nên tốt đẹp.)

(b) Theo ý động dụng pháp là «xem là tốt đẹp».

Thí dụ: Ngô thê chi mỹ ngã giả, tư ngã dã; ngô thiếp chi mỹ ngã giả, úy ngã dã; khách chi mỹ ngã giả, dục hữu cầu vu ngã dã. 吾妻之我者私我也; 吾妾之我者畏我也; 客之我者欲有求于我也 (Vợ ta xem ta là tốt đẹp, ấy là lòng riêng tư đối với ta; thiếp ta xem ta là tốt đẹp, ấy là vì sợ ta; khách xem ta là tốt đẹp, ấy là muốn cầu cạnh ở ta.)

 

Chú ý (II):

Sự khác biệt giữa ý động của tính từý động của danh từ ở chỗ:

(a) «tính từ (dùng như động từ) + tân ngữ» = xem tân ngữ là thế nào [tính từ].

Thí dụ: Ngô thê chi mỹ ngã giả, tư ngã dã. 吾妻之 我者私我也 (Vợ ta xem ta là tốt đẹp, ấy là lòng riêng tư đối với ta.)

(b) «danh từ (dùng như động từ) + tân ngữ» = xem tân ngữ là cái gì [danh từ].

Thí dụ: Mạnh Thường Quân khách ngã. 孟嘗君 (Mạnh Thường Quân xem ta là khách.)

 

VII. Bị động dụng pháp:

1. Dùng «kiến» 見 trước động từ:

 

– Nhân giai dĩ kiến vũ vi nhục, cố đấu dã. 人皆以 見侮 為辱故鬥也 (Người ta đều xem việc bị khinh bỉ là cái nhục, cho nên họ mới đánh nhau.)

 

2. Dùng «ư» 於 (= «vu» 于) sau động từ:

– Quân hạnh ư Triệu vương. 趙王 (Ngài được vua Triệu sủng ái.)

– Khích Khắc thương ư thỉ, lưu huyết cập lũ. 傷於 矢流血及屨 (Khích Khắc bị trúng tên [thọ thương], máu chảy xuống giầy.)

 

3. Dùng cả «kiến» 見 và «ư» 於 (= «vu» 于):

– Ngô trường kiến tiếu ư đại phương chi gia. 吾長 見笑於 大方之家 (Tôi ắt sẽ bị mọi người chê cười mãi.)

– Nhiên nhi công bất kiến tín ư nhân, tư bất kiến trợ ư hữu. 然而公不 見信於 人私不 見助於 (Thế mà về mặt công thì không được người ta tin cậy, về mặt tư thì không được bạn bè giúp đỡ.)

 

4. Dùng «vi» 為 :

– Phụ mẫu tông tộc giai vi lục một. 父母宗族皆 為戮沒 (Cha mẹ và họ hàng [của kẻ ấy] đều bị giết sạch.)

– Thân vi Tống quốc tiếu. 宋國笑 (Bản thân bị nước Tống cười chê.)

 

5. Dùng kết cấu «vi為 + tác nhân + sở 所 + động từ »:

– Vi địch nhân sở sát. 敵人(Bị kẻ địch giết.)

 

6. Dùng «bị» 被 trước động từ:

– Tín nhi kiến nghi, trung nhi bị báng, năng vô oán hồ? 信而見疑忠而被謗能無怨乎 (Chân thành thì bị nghi ngờ, trung thành thì bị sàm báng, sao mà không oán cho được?) [Chú: kiến nghi cũng là dạng bị động]

 

Chú ý: Cấu trúc bị động với chữ «bị» bắt đầu được dùng kể từ cuối đời Chiến Quốc.

 

VIII. Các dụng pháp khác:

 

Sử động, ý động, và bị động là ba dụng pháp được giải thích trong hầu hết các sách hiện nay về ngữ pháp Hán ngữ cổ đại. Còn vài dụng pháp khác ít được bàn đến:

 

1. Vị động 為動 dụng pháp:

 

– Bá Di tử danh vu Thủ Dương sơn hạ, Đạo Chích tử lợi vu Đông Lăng chi thượng. 伯夷 死名 于首陽山下, 盜跖 死利 于東陵之上 (Bá Di chết vì danh nơi chân núi Thủ Dương, Đạo Chích chết vì lợi trên gò Đông Lăng.)

– Ngô phi bi nguyệt dã. 吾非 悲刖 (Ta chẳng phải vì hình phạt chặt chân mà buồn.)

 

2. Đối động 對動dụng pháp:

– Toại trí Khang thị vu Thành Dĩnh nhi thệ chi viết: Bất cập Hoàng Tuyền vô tương kiến dã. 遂寘姜氏于城潁而 誓之 曰: 不及黃泉無相見也 (Bèn an trí Khang thị tại Thành Dĩnh rồi đối mặt mà thề rằng: Chừng nào đến Suối Vàng thì mới gặp nhau.)

– Dĩ sự Tần chi tâm lễ thiên hạ chi kỳ tài. 以事秦之心 天下之奇才 (Lấy lòng phụng sự nước Tần mà thi lễ đối với bậc kỳ tài trong thiên hạ.)

 

3. Dữ động 與動 (= cấp động 給動) dụng pháp:

– Chu lương Hàn Tần. 韓秦 (Nước Chu cung cấp lương thực cho nước Hàn và nước Tần.) – Hữu nhất mẫu kiến Tín cơ, phạn Tín, cánh phiếu sổ thập nhật. 有一母見信饑 飯信, 竟漂數十日 (Có bà lão thấy Hàn Tín đói, bèn đem cơm cho Tín ăn; rồi giặt giùm y phục vài mươi ngày.)

Y thực cơ hàn giả, từ phụ chi đạo dã. 衣食 饑寒者 慈父之道也 (Tặng cơm áo cho kẻ đói lạnh, đó là đạo lý của bậc cha hiền.)

 

4. Nhân động 因動 dụng pháp:

– Cật triêu nhĩ xạ, tử nghệ. 詰朝爾射, 死藝 (Đến sáng mai khi ngươi bắn tên, do nghề bắn giỏi mà bị chết đấy.)

– Đông noãn nhi nhi hào hàn, niên phong nhi thê đề cơ. 冬暖而兒號寒年丰而妻啼飢 (Mùa đông ấm mà con kêu gào vì lạnh, năm được mùa mà vợ khóc vì đói.)

 

PHẦN II – CẤU TRÚC CƠ BẢN

I. Câu đơn

 

1. Câu phán đoán

 

a/ «… 者, … 也 ». Thí dụ: Liêm Pha giả, Triệu chi lương tướng dã. 廉頗, 趙之良將 (Liêm Pha là tướng giỏi của nước Triệu.)

Biến thể: Hoặc lược bỏ 者 và 也. Thí dụ: Tuân Khanh, Triệu nhân. 荀卿, 趙人 (Tuân Khanh là người nước Triệu.) = Tuân Khanh giả, Triệu nhân dã. 荀卿者, 趙也.

 

b/ «… 也 ».

Thí dụ: Thử Đông Hải dã. 此東海 (Đây là Đông Hải.)

 

c/ «… 為 … ».

Thí dụ: Dân vi quý, quân vi khinh. 民貴,君輕 (Dân thì quý, vua thì nhẹ.)

 

d/ «… 曰 … ».

Thí dụ: Ấu nhi vô phụ viết cô. 幼而無父孤 (Nhỏ dại không cha gọi là mồ côi.)

 

e/ «… 是 … ».

Thí dụ: Cự thị phàm nhân. 巨凡人 (Cự là kẻ tầm thường.)

 

f/ «… 則 … ».

Thí dụ: Thử tắc Nhạc Dương Lâu chi đại quan dã. 此岳陽樓之大觀也 (Chỗ này ắt là nơi có thể quan sát rộng khắp của lầu Nhạc Dương.)

 

g/ «… 即 … ».

Thí dụ: Lương phụ tức Sở tướng Hạng Yến. 梁父楚將項燕 (Cha của Lương tức là tướng Hạng Yến của nước Sở.)

 

h/ «… 乃 … ».

 Thí dụ: Đương lập giả nãi công tử Phù Tô. 當立者公子扶蘇 (Người đáng lập là công tử Phù Tô.)

 

i/ «… 非 … ».

Thí dụ: Nhân phi thảo mộc. 人草木 (Người đâu phải là cây cỏ.)

 

j/ «… 匪 … ».

Thí dụ: Ngã tâm phỉ thạch. 我心石 (Lòng ta nào phải là đá.)

2. Câu trần thuật

 

a/ «Chủ ngữ + động từ».

Thí dụ: Hạng Vương nộ. 項王怒 (Hạng Vương nổi giận.)

 

b/ «Chủ ngữ + động từ+ tân ngữ».

Thí dụ: Điền Trung hữu châu. 田中有珠 (Điền Trung có ngọc châu.)

 

c/ «Chủ ngữ + động từ+ tân ngữ gián tiếp (: người) + tân ngữ trực tiếp (: vật)».

Thí dụ: Từ giả tứ kỳ xá nhân chi tửu. 祠者賜其舍人卮酒 (Người cúng tế tặng cho môn khách của mình một nậm rượu.)

 

d/ «Chủ ngữ + động từ 1+ kiêm ngữ + động từ 2 + tân ngữ». (Kiêm ngữ = thành phần vừa là tân ngữ của động từ 1 vừa là chủ ngữ động từ 2.)

Thí dụ: Đế mệnh Khoa Nga thị nhị tử phụ nhị sơn. 帝命夸娥氏二子負二山 (Vua ra lệnh hai con của Khoa Nga vác hai quả núi.) – Tần vương bái Lý Tư vi khách khanh. 秦王拜李斯為客卿 (Vua Tần cho Lý Tư làm khách khanh.)

 

e/ «Chủ ngữ + động từ 1+ tân ngữ 1 + 而 + động từ 2 + tân ngữ 2».

Thí dụ: Tống nhân / thích kỳ lỗi / nhi / thủ chu. 宋人 釋其耒 守株 (Người nước Tống đã vất bỏ cày của mình mà ôm gốc cây.)

 

f/ «Chủ ngữ + 不如 (=不若) + tân ngữ».

Thí dụ: Từ Công / bất nhược / quân chi mỹ. 徐公 不若 君之美 (Từ Công không đẹp như ngài.)

 

g/ «cấu trúc bị động».

Xem lại các thí dụ ở mục IX trên đây.

 

3. Câu miêu tả

a/ «Chủ ngữ + tính từ».

 Thí dụ: Tấn cường. 晉強 (Nước Tấn mạnh.)

 

b/ «Chủ ngữ + tính từ 1 + 而 + tính từ 2».

Thí dụ: Vệ nhược nhi bần. 衛弱貧 (Nước Vệ yếu và nghèo.)

 

c/ «Chủ ngữ + tính từ 1 + 且 + tính từ 2».

Thí dụ: Lão nông chi thê tật thả hãn. 老農之妻嫉悍 (Vợ lão nông phu kia đã ghen ghét mà còn hung dữ.)

 

d/ «Chủ ngữ + số từ».

Thí dụ: Hậu cung giai lệ tam thiên. 後宮佳麗三千(Người đẹp trong hậu cung có 3000 người.)

 

4. Câu hỏi

 

a/ «Chủ ngữ + danh từ + 歟 ».

 Thí dụ: Phu tử thánh giả dư? 夫子聖者 (Phu tử là bậc thánh chăng?)

 

b/ « 孰 (= 誰) + 能…».

Thí dụ: Thục năng vô hoặc? 孰能無惑 (Ai mà không có điều nghi hoặc?)

 

c/ « A 與 B+ 孰 + tính từ» = « A 孰與 B + tính từ».

 Thí dụ: Ngô dữ Từ Công thục mỹ ? 吾徐公美 [= Ngô thục dữ Từ Công mỹ? 吾孰與徐公美] (Ta với Từ Công ai đẹp hơn?)

 

d/ «… 何也 ».

Thí dụ: Kim tử hữu ưu sắc, hà dã? 今子有憂色, 何也 (Nay ngài có vẻ lo âu, sao thế?)

 

e/ «Chủ ngữ + 不亦 + tính từ + 乎 ».

 Thí dụ: Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc duyệt hồ? 有朋自遠方來不亦 (Có bạn từ phương xa đến chẳng là vui sao?)

 

f/ « 豈 ».

Thí dụ: Khởi hữu thử lý? 有此理 (Lẽ nào có cái lý ấy?)

 

g/ « 胡 ».

Thí dụ: Hồ bất quy? 不歸 (Sao chẳng quay về đi?)

 

h/ « 安 ».

Thí dụ: Ngô an vãng nhi bất lạc? 吾往而不樂 (Ta đi đâu mà chẳng thấy vui?) – Binh bần dân khổ, ngô an khả độc lạc? 兵貧民苦吾安可獨樂 (Binh nghèo dân khổ, làm sao ta có thể vui sướng riêng một mình cho được?)

 

i/ « 盍 ».

 Thí dụ: Hạp các ngôn nhĩ chí? 各言爾志 (Mỗi người trong các anh sao chẳng nói lên chí hướng của mình đi?)

 

5. Câu phủ định

a/ « 不 / 弗 + động từ/tính từ ».

 

 Thí dụ: Đắc chi tắc sinh, phất đắc tắc tử. 得之則生得則死 (Được nó thì sống, không được nó thì chết.)

Chú ý: «Bất» và «phất» dùng thông với nhau. Kể từ đời Hán Chiêu Đế 漢昭帝 (Lưu Phất Lăng 劉弗陵, 86-74 tcn), do kỵ huý, «phất» bị thay thế bằng «bất».

 

b/ « 毋 / 無 / 勿 / 莫 / 休 » (ngăn cản/cấm đoán).

Thí dụ: Đại vô xâm tiểu. 大侵小 (Nước lớn chớ xâm lược nước nhỏ.) – Vô vọng ngôn. 妄言 (Chớ nói càn.) – Khuyến quân hưu thán hận. 勸君嘆恨 (Xin ông đừng than thở oán hận.) – Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ. 愁前路無知己 (Chớ buồn nẻo trước không tri kỷ.) – Dĩ vãng sự vật truy tư, vị lai sự vật nghinh tưởng, hiện tại sự vật lưu niệm. 已往事勿追思, 未來事勿迎想, 現在事勿留念 (Việc đã qua chớ truy cứu nữa, chuyện mai sau chớ đón trước mà nghĩ ngợi; việc hiện tại chớ lưu lại làm kỷ niệm.).

 

c/ « 未 / 未嘗 … » (chưa/ chưa từng).

 Thí dụ: Kiến ngưu vị kiến dương dã. 見牛見羊也 (Anh đã thấy trâu chứ chưa thấy dê.)

 

d/ « 非 / 匪 + danh từ ».

Thí dụ: Tử phi ngư an tri ngư chi lạc? 子魚安知魚之樂 (Ông chẳng phải là cá, sao biết được niềm vui của cá?)

 

e/ « 亡 ».

Thí dụ: Nhân giai hữu huynh đệ, ngã độc vong. 人皆有兄弟我獨 (Ai cũng có anh em, riêng ta thì không.) – Vấn hữu dư, viết vong hĩ. 問有餘曰矣 (Hỏi có dư không, thì trả lời là không.)

 

f/ « 否 ».

Thí dụ: Phàm thử ẩm tửu, hoặc túy hoặc phủ. 凡此飲酒或醉或 (Lần đó uống rượu, có người say, có người không say.) – Như thử tắc động tâm phủ hồ? 如此則動心乎 (Nếu thế nó có làm động tâm của ngài không?) – Tri khả phủ, tri dã. 知可知也 (Biết điều có thể và điều không thể, đó là biết vậy.)

 

f/ « 靡 ».

Thí dụ: Thiên mệnh mỵ thường. 天命常 (Mệnh trời không cố định.)

 

6. Câu cầu khiến

a/ Câu phát biểu ngụ ý cầu khiến.

Thí dụ: Tử vị ngã vấn Mạnh Tử. 子為我問孟子 (Xin ngài hỏi Mạnh Tử giùm tôi.)

 

b/ « 請 … ».

Thí dụ: Vương thỉnh độ chi. 度之 (Xin nhà vua hãy đo đạc nó.) «Thỉnh» có thể đi với ngôi thứ nhất: Thần thỉnh vị vương ngôn nhạc. 臣請為王言樂 (Cho phép thần vì bệ hạ mà nói về âm nhạc.)

 

c/ Dùng « 毋 / 無 / 勿 / 莫 / 休 » để tỏ sự ngăn cản / cấm đoán.

(Xem các thí dụ ở mục 5b ngay trên đây.)

 

II. Câu phức

1. Câu ghép.

 

Ghép hai câu đồng đẳng (ngang hàng), ngụ ý «và», «hoặc/hay», «nhưng/mà». Thí dụ: –  Nhậm trọng nhi đạo viễn. 任重道遠 (Trách nhiệm nặng nề đường thì xa.)

– Sự Tề hồ, sự Sở hồ? 事齊乎事楚乎 (Phục vụ cho nước Tề hay nước Sở?)

 

2. Câu chính-phụ.

Ghép hai câu có quan hệ «chính-phụ». Câu chính mang ý chính, câu phụ diễn tả: sự nhượng bộ (tương phản), nguyên nhân, điều kiện, …

 

a/ Câu phụ chỉ nhượng bộ.

Dùng các chữ « 雖 / 縱 » trong câu phụ chỉ nhượng bộ. Thí dụ:

Tuy Nghiêu, Thuấn. Vũ, Thang phục sinh, phất năng cải dĩ. 堯舜禹湯復生, 弗能改已 (Dù cho Nghiêu Thuấn, Vũ, Thang có sống lại cũng không thay đổi được gì.)

 

b/ Câu phụ chỉ nhân quả.

Câu chính (chỉ kết quả) mở đầu là « 故 / 是以 / 是故 ». Thí dụ: – Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc dữ tranh. 夫唯不爭, 天下莫與爭 (Vì ta không tranh với ai nên thiên hạ không tranh với ta.)

–  Kỳ ngôn bất nhượng, thị cố thẩn chi. 其言不讓, 是故哂之 (Lời lẽ hắn không khiêm nhường, nên ta mỉm cười hắn.)

 

c/ Câu phụ chỉ điều kiện.

 Dùng các chữ « 苟 / 若 / 如 / 使 /非 » trong câu phụ chỉ điều kiện. Thí dụ:

Cẩu vô dân, hà dĩ hữu quân. 無民何以有君 (Nếu không có dân, có vua để làm gì?)– Cẩu hữu dụng ngã giả, kỳ nguyệt nhi dĩ khả dã. 有用我者, 期月而已可也 (Nếu có ai dùng ta, ắt trong một tháng việc này sẽ xong.)

– Sử nhân bất dục sinh, bất ố tử, tắc bất khả đắc nhi chế dã. 使人不欲生不惡死則不可得而制也 (Nếu dân không ham sống và không sợ chết, thì không thể nào khống chế được họ.)– Phi ngã tộc loại, kỳ tâm tất dị. 我族類其心必異 (Nếu không cùng tộc loại với ta, lòng dạ của họ ắt sẽ khác đi.)

 

Sách tham khảo

1. Điền Thụy Quyên 田瑞娟 & Trương Liên Vinh 張聯榮, Văn Ngôn Văn Yếu Lãm 文言文要覽, Bắc Kinh Đại học xbx 北京大學出版社, 1988.2. Lưu Cảnh Nông 劉景農, Hán Ngữ Văn Ngôn Ngữ Pháp 漢語文言語法. Trung Hoa Thư Cục 中華書局, 1994.

3. Lý‎‎ Lâm 李林, Cổ đại Hán Ngữ Ngữ Pháp Phân Tích 古代漢語語法分析, Trung Quốc Xã hội Khoa học xbx 中國社會科學出版社, 1996.4. Thân Tiểu Long 申小龍, Trung Quốc Cú Hình Văn Hoá 中國句型文化, Đông Bắc Sư phạm Đại học xbx 東北師範大學出版社, Cát Lâm 吉林, 1988.5. Trần Cao Xuân 陳高春 (chủ biên), Thực Dụng Hán Ngữ Ngữ Pháp Đại Từ Điển 實用漢語語法大辭典, Chức Công Giáo Dục xbx 職工教育出版社, Bắc Kinh 北京, 1989.

6. Christoph Harbsmeier, Aspects of Classical Chinese Syntax, Curzon Press, Denmark, 1981.

7. Edwin G. Pulleyblank, Outline of Classical Chinese Grammar, UBC Press, Vancouver, 2000.

8. Gregory Chiang, Language of the Dragon – A Classical Chinese Reader, Vol 1, Cheng&Tsui Company, USA, 1998.

9. Harold Shadick & Ch’iao Chien, A First Course in Literary Chinese, Vol 1, Cornell University Press, 1992.

10. Michael A. Fuller, An Introduction to Literary Chinese, Harvard University Press, 1999.

Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?

January 24th, 2008

【子非魚,安知魚之樂?】

莊子與惠子游于濠梁之上。 莊子曰∶”魚出游從容,是魚之樂也。”惠子曰∶”子非魚,安知魚之樂?”莊子曰∶”子非吾,安知吾不知魚之樂?”惠子曰∶”吾非子,固不知子矣;子固非魚也,子之不知魚之樂,全矣!”莊子曰∶”請循其本。子曰’汝安知魚樂’云者,既已知吾知之而問吾。吾知之濠上也。”《莊子•秋水》 

PINYIN

zǐ fēi yú,ān zhī yú zhī yuè?

zhuāngzǐ yǔ huì zǐ yóu yú háoliáng zhīshàng。
zhuāng zǐ yuē ∶”yú chū yóu cóngróng,shì yú zhī yuè yě。”
huì zǐ yuē ∶”zǐ fēi yú,ān zhī yú zhī yuè?”
zhuāng zǐ yuē ∶”zǐ fēi wú,ān zhī wú bùzhī yú zhī yuè?”
huì zǐ yuē ∶”wú fēi zǐ,gù bù zhī zǐ yǐ;zǐ gù fēi yú yě,zǐ zhī bù zhī yú zhī yuè,quán yǐ!”
zhuāng zǐ yuē ∶”qǐng xún qí běn。zǐ yuē’rǔ ān zhī yú yuè’yún zhě,jì yǐzhī wú zhī zhī ér wèn wú。wú zhī zhī háo shàng yě。”

PHIÊN ÂM

Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?

Trang Tử dữ Huệ Tử du ư hào lương chi thượng.
Trang Tử viết: “Du ngư xuất du thung dung, Thị ngư lạc dã”.
Huệ Tử viết: “Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?”
Trang Tử viết: “Tử phi ngã, an tri ngã bất tri ngư chi lạc?”
Huệ Tử viết: “Ngã phi tử, cố bất tri tử hĩ. Tử cố phi ngư dã, tử chi bất tri ngư chi lạc toàn hĩ ”
Trang Tử viết: “Thỉnh tuần kì bản. Tử viết: nhữ an tri ngư lạc vân giả, ký dĩ tri ngô tri chi nhi vấn ngã. Ngã tri chi hào thượng dã”.

Trang Tử: Thu thủy

Tác giả – Tác phẩm

Sách Trang Tử được coi là tác phẩm triết lý văn học xuất sắc nhất của phái Đạo gia Trung Quốc, có địa vị tương tự như sách Mạnh Tử bên Nho giáo. Tác giả là Trang Chu (369-298 trước CN), phát triển tư tưởng của Lão Tử, chủ trương xuất thế, không ham sống, không ghét chết, không vui buồn, không dụng tâm cải tạo việc đời, coi phải, trái, xấu, tốt, sang, hèn đều như nhau…Sách gồm 33 thiên chi làm 7 thiên “Nội thiên“, 15 thiên “Ngoại thiên” và 11 thiên “Tạp thiên“, trong đó phần “Nội thiên” có tính nhất trí cao hơn và được nhiều học giả coi như là phần chính thức do Trang Tử (Trang Chu) viết. Bài trên đây trích trong đoạn cuối thiên “Thu Thủy” (thuộc ngoại thiên), luận về tính chủ quan của nhận thức con người đối với sự vật bên ngoài.

TỪ NGỮ

Huệ Tử: người cùng thời với Trang Tử
Hào lương: cầu trên sông Hào (sông Hào ở phía đông bắc huyện Phượng Dương tỉnh An Huy)
Du: cá du (một loại cá trắng)
Thung dung: thong thả
Tuần: noi theo, men theo
Nhữ: ông, bác, mày…(đại từ nhân xưng ngôi thứ ha)

NGỮ PHÁP

An: sao, làm sao (phó từ biểu thị phản vấn)
Cố: vốn, vốn dĩ (phó từ)
Vân giả: cái gọi là

DỊCH NGHĨA

Bác không phải cá, sao biết niềm vui của cá?

Trang Tử cùng Huệ Tử dạo chơi trên cầu sông Hào.
Trang Tử nói: “Cá du ra chơi thong thả, đó là niềm vui của cá”
Huệ Tử đáp: “Bác không phải cá, sao biết được niềm vui của cá?”
Trang Tử nói: “Bác không phải tôi, sao biết tôi không biết niềm vui của cá?”
Huệ Tử nói: “Tôi không phải bác, không biết bác đã đành. Nhưng bác vốn không phải cá, thì hẳn là bác không biết được niềm vui của cá”.
Trang Tử nói: “Xin nói lại từ gốc. Bác hỏi tôi sao biết được niềm vui của cá, thế là bác đã biết tôi biết mà hỏi tôi. Tôi thì biết điều đó ở trên sông Hào nầy”.

Trần Văn Chánh dịch

Thiên hạ [chương 2]

January 20th, 2008

【天下】


天下皆知美之為美,斯惡已;皆知善之為善,斯不善已。故有無相生,難易相成,長短相形,高下相傾,音聲相和,前後相隨。是以聖人處無為之事,行不言之教,萬物作焉而不辭,生而不有,為而不恃,功成而弗居。夫唯弗居,是以不去。

Thiên hạ

Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ ,tư ác dĩ ;giai tri thiện chi vi thiện ,tư bất thiện dĩ . Cố hữu vô tương sinh ,nan dị tương thành ,trường đoản tương hình,cao hạ tương khuynh ,âm thanh tương hoà ,tiền hậu tương tuỳ . Thị dĩ thánh nhân xử vô vi chi sự ,hành bất ngôn chi giáo ,vạn vật tác yên nhi bất từ ,sinh nhi bất hữu ,vi nhi bất thị ,công thành nhi phất cư . Phù duy phất cư ,thị dĩ bất khứ .

Tác giả – Tác phẩm

Lão Tử hay Đạo Đức Kinh của Lão Tử (sinh năm 570 trước CN) là sách triết lý kinh điển của phái Đạo gia Trung Quốc, có địa vị và ảnh hưởng tương tự như Luận ngữ bên Nho giáo. Sách được hình thành trong thời đại Chiến quốc, bàn về quy luật vận động của thế giới tự nhiên, nêu lên mặt mâu thuẫn và đối lập-thống nhất lẫn nhau trong hiện thực, phản đối sự áp bức về chính trị, chủ trương trở về với lối sống “thanh tĩnh, vô vi” như xã hội cộng sản nguyên thuỷ. Đến đời Đường, Lục Đức Minh mới đem sách Lão Tử ra chú giải về âm nghĩa; bản còn lưu truyền đến nay gồm 81 chương (xem thêm category Đạo Đức Kinh), tổng cộng khoảng 5000 chữ, cơ bản viết bằng văn vần. Đoạn trên đây trích ở chương 2 sách Lão Tử, luận về lẽ tương đối của tốt xấu, thiện ác, hữu vô, khó dễ, dài ngắn, trước sau…, xem như căn bản triết lý của Đạo gia.

NGỮ PHÁP

: thì (liên từ), dùng như (tắc)
: rồi, vậy (trợ từ cuối câu, biểu thị khẳng định
Yên: trợ từ làm ngữ vĩ cho động từ: (tác yên …)
Phù duy…thị dĩ…: chính vì…cho nên… (phù duy phất cư, thị dĩ bất khứ)

DỊCH NGHĨA

Thiên hạ

Khi thiên hạ đều biết cái tốt là tốt thì đó đã là cái xấu rồi. Khi thiên hạ đều biết cái thiện là thiện thì đó đã là cái bất thiện rồi. Cho nên cái Hữu và cái Vô sinh ra nhau, cái khó và cái dễ nghiêng vào nhau, cái dài và cái ngắn giao tiếp nhau, âm và thanh chuyển hóa cho nhau, cái đi trước và cái đi sau đi theo nhau. Chính vì vậy bậc thánh nhân thi hành cái việc Vô vi, thực hiện việc dạy không dùng lời. Muôn vật xuất hiện mà mình không nói, chúng sinh ra mà mình không chiếm lấy, mình làm mà không cậy công, công lao hoàn thành mà mình không kể công. Chính vì mình không kể công, cho nên (công) mới không mất đi.

Phan Ngọc dịch

Xem toàn chương bắt đầu bằng 

THƯ PHÁP TỨC LÀ NGƯỜI

January 20th, 2008

image-3.jpg

image.jpg

Thư pháp thực sự là bức họa của tâm; mức độ chứng ngộ được biểu hiện qua dòng chảy của mực. Khi một ai cố gắng, một cách sai lầm để xóa bỏ những chữ do Vương Hy Chi (Wang Xizhi) viết, họ đều phát hiện rằng các chữ ấy đúng là đã thấm qua gỗ. Dù có đục sâu cỡ nào, cũng khó mà xóa được chúng.
Gần đây, những nghiên cứu của Tẻayama Katsuyo đã chỉ cho thấy rằng thư pháp thiền đúng thật là “sinh động”. Ông ta thu thập những tác phẩm thư pháp thiền đích thực, những bản giả mạo, và những bản sao chép từ những tác phẩm nầy, rồi khảo sát chúng bằng kính hiển vi điện tử, phóng lớn một phần của tác phẩm chừng 500 hoặc 100 lần. Những vết mực được phóng lớn của những thư pháp đích thực thì rung động mạnh mẽ, tràn đầy khí lực (ki), thiêng liêng bí ẩn; ngược lại, các vết mực của các thư pháp giả mạo hoặc sao chép thì phân tán, yếu ớt và thiếu sinh động. Thư pháp cũ dù có trải qua hằng trăm năm vẫn như vừa mới được viết lên, những dòng chữ như đang ôm lấy người xem.
Do vì các nhà thư pháp thiền khước từ các bằng chứng khoa học, chính nội dung của thư pháp đến từ bên trong hơn là không có gì cả. Do vậy, mỗi tác phẩm là vô song, phản ánh tính vĩnh hằng từ sự rung động của nhà thư pháp với thiên nhiên, với các dụng cụ để thể hiện, và với hình ảnh còn lưu dấu trong tâm họ.

image-33.jpg

Ichi (ni) gyo môn ghi hai thiền ngữ: (hàng bên trái: bình thường tâm thị đạo  平常心之道 của Chuho (1760-1838), trú trì chùa Daitokuji; hàng bên phải: trực tâm thị đạo tràng 直心是道場 của thiền sư Kyodo (1808-1895) thuộc tông Lâm Tế)
Trong cảnh giới cao nhất, nhà thư pháp hoạt dụng trong một thế giới thuần khiết thanh tịnh; sự hợp nhất của người viết, bút, mực và giấy sẽ phá hủy mọi tương quan ràng buộc. Đó là tự do – thoát ly mọi luật lệ, mọi tiêu chuẩn, mọi quy ước. Tuy nhiên, sự chứng ngộ trong thư pháp không dễ gì dạt được mà không phải trải qua nhiều năm công phu tinh cần từ căn bản bằng cả nỗ lực của thân và tâm.

image-1.jpg

直指人心

top0605.jpg

Thư pháp thiền hoàn toàn đơn giản. Trong khi phần lớn các thư pháp trình bày trong tập sách nầy lại dựa trên hệ thống hình họa đơn giản và nhấn mạnh vào các hình thái rạch ròi, tường tận.. Thư pháp thiền cũng dò đến tận nguồn sâu thẳm, sáng rỡ của chân lý, dò đến ngôn ngữ thường ngày không bị hủy hoại bởi học thuyết duy lý và thần bí chủ nghĩa. Nó không nghi thức, không quy tắc, và rất đơn giản, chẳng có gì ngoài mực đen trên giấy trắng. Ngay cả khi đề cập đến những đề tài về ngôn ngữ bí truyền, các nhà thư pháp thiền được thẳng tắt vượt qua hệ thống biểu tượng rườm rà rắc rối, bỏ qua những giáo điều ma thuật, như bản chất thanh tịnh thuần khiết vốn có của nó.

Quan, nghĩa là cửa ải mà mọi thiền sinh phải vượt qua.  Thư pháp tác giả vô danh.

 

 

 

 

 

 

 

image-31.jpg

image-32.jpg

John Steven

Thích Nhuận Châu dịch

Trích từ Thư Pháp Linh Tự Đông Phương

THIÊN THƯỢNG 29

January 19th, 2008

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG HAI MƯƠI CHÍN

將欲取天下而為之,吾見其不得已。天下神器,不可為也,不可執也。為者敗之,執者失之。故,物,或行或隨,或噓或吹,或強或羸,或載或隳。是以聖人去甚,去奢,去泰。

PINYIN

jiāng yù qū tiānxià ér wèizhī,wú jiàn qí bùdéyǐ。tiānxià shénqì,bùkě wèi yě,bùkě zhí yě。wèi zhě bài zhī,zhí zhě shī zhī。gù wù,huo xíng huo suí,huo xū huo chuī,huo qiáng huo léi,huo zài huo huī。shìyǐ shèngrén qù shén,qù shē,qù tài。

PHIÊN ÂM

Tương dục thủ thiên hạ nhi vi chi ,ngô kiến kì bất đắc dĩ .  Thiên hạ thần khí ,bất khả vi dã, bất khả chấp dã .  Vi giả bại chi ,chấp giả thất chi .  Cố vật ,hoặc hành hoặc tuỳ ,hoặc hư hoặc xuy ,hoặc cường hoặc lụy ,hoặc tải hoặc huy .  Thị dĩ thánh nhân khứ thậm ,khứ xa ,khứ thái .

ANH NGỮ

If you want to grab the world and run it…
If you want to grab the world and run it
I can see that you will not succeed.
The world is a spiritual vessel, which can’t be controlled.
Manipulators mess things up.
Grabbers lose it. Therefore:
Sometimes you lead
Sometimes you follow
Sometimes you are stifled
Sometimes you breathe easy
Sometimes you are strong
Sometimes you are weak
Sometimes you destroy
And sometimes you are destroyed.
Hence, the sage shuns excess
Shuns grandiosity
Shuns arrogance.

Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

Muốn trị thiên hạ mà hữu vi thì ta biết là không thể được rồi. Thiên hạ là một đồ vật thần diệu, không thể hữu vi, không thể cố chấp được. Hữu vi thì làm cho thiên hạ hỏng, cố chấp thì mất thiên hạ.
Cho nên, sinh vật (người) hoặc đi trước (tích cực) hoặc đi theo (tiêu cực), hoặc hà hơi (cho ấm) hoặc thở (cho nguội), hoặc mạnh hoặc yếu, hoặc an hoặc nguy. Cho nên thánh nhân bỏ những cái gì thái quá.

LỜI BÀN

 

Câu đầu, chữ “thủ” có nghĩa là trị, như trong câu: “Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự (trị thiên hạ nên dùng chính sách vô vi) ở chương 48. Chữ “vi” cũng trong câu đó, nhiều người dịch là làm theo ý mình, không thuận theo tự nhiên. Chúng tôi dịch là hữu vi cho rõ nghĩa hơn.
Câu nhì, bản của Vương Bật là “tỏa” (bẻ gãy), bản của Hà Thượng Công là “tải”; chữ “huy” dùng như chữ “trụy”. “Tải” là ngồi xe (được xe chở đi), trụy là té; nghĩa bóng là an và nguy.
Đại ý của chương này cũng là trị dân nên vô vi tránh cực đoan mà cứ thuận theo tự nhiên, vì người và việc đời đổi thay vô định, không thể làm theo ý riêng của ta được

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

TỪ  NGỮ

为之[為-] 【wèizhī】 vi chi, for it, chữ 而為之 charles muller dịch là and run it, cũng có thể nói là and improve it…mà làm cho nó tốt hơn.  Nguyễn Hiến Lê dịch “mà hữu vi” thì thật là hay.

不得已 【bùdéyǐ 】 bất đắc dĩ, have no alternative, have (no choice but) to

神器 【shénqì】 thần khí, the throne; imperial power, uy nghi, oai vệ, đường bệ; lộng lẫy, tráng lệ, nguy nga

不可 【bùkě】 bất khả, cannot; should/must not, không thể

是以 【shìyǐ】 thị dĩ,  therefore; hence,cũng đồng nghĩa như 故

Ngu công di sơn

January 12th, 2008

 愚公移山

太行、王屋二山,方七百里,高萬仞。本在冀州之南,河陽之北。北山愚公者,年且九十,面山而居。懲山北之塞,出入之迂也,聚室而謀曰:吾與汝畢力平險,指通豫南,達于漢陰,可乎?雜然相許。
其妻獻疑曰:以君之力,曾不能損魁父之丘,如太行王屋何?且焉置土石?雜曰:投諸渤海之尾,隱土之北。遂率子孫荷擔者三夫,扣石墾壤,箕畚運于渤海之尾。鄰人京城氏之孀妻,有遺男,始齔,跳往助之。寒暑易節,始一反焉。河曲智叟笑而止之,曰:甚矣,汝之不惠。以殘年馀力,曾不能毀山之一毛,其如土石何?北山愚公長息曰:汝心之固,固不可徹,曾不若孀妻弱子。我雖死,有子存焉;子又生孫,孫又生子;子又有子,子又有孫。子子孫孫,無窮匱也。而山不加增,何患而不平?河曲智叟亡(無)以應。
《列子·汤问篇》

PHIÊN ÂM 

Ngu công di sơn

Thái Hàng ,Vương Ốc nhị sơn ,phương thất bách lí ,cao vạn nhận .bản tại Ký châu chi nam ,Hà Dương chi bắc . Bắc sơn Ngu công giả ,niên thả cửu thập ,diện sơn nhi cư . Trừng sơn bắc chi tắc ,xuất nhập chi vu dã ,tụ thất nhi mưu viết :”Ngô dữ nhữ tất lực bình hiểm ,chỉ thông Dự nam ,đạt ư Hán âm ,khả hồ ?” Tạp nhiên tương hứa .
Kì thê hiến nghi viết :”Dĩ quân chi lực ,tằng bất năng tổn Khôi Phủ chi khâu , Như Thái Hàng Vương Ốc hà ? thả yên trí thổ thạch ?”. Tạp viết :”Đầu chư Bột Hải chi vĩ , Ẩn Thổ chi bắc .” Toại suất tử tôn hà đảm giả tam phu ,khấu thạch khẩn nhưỡng , ki bản vận ư Bột Hải chi vĩ . Lân nhân Kinh Thành thị chi sương thê ,hữu di nam ,thủy sấn ,khiêu vãng trợ chi . Hàn thử dịch tiết ,thủy nhất phản yên .
Hà khúc trí tẩu tiếu nhi chỉ chi ,viết :”Thậm hĩ , Nhữ chi bất huệ . Dĩ tàn niên dư lực ,tằng bất năng huỷ sơn chi nhất mao , kì như thổ thạch hà ?”. Bắc sơn ngu công trường tức viết :”Nhữ tâm chi cố ,cố bất khả triệt ,tằng bất nhược sương thê nhược tử . Ngã tuy tử ,hữu tử tồn yên ;tử hựu sinh tôn ,tôn hựu sinh tử ;tử hựu hữu tử ,tử hựu hữu tôn .tử tử tôn tôn ,vô cùng quỹ dã .nhi sơn bất gia tăng ,hà hoạn nhi bất bình ?”. Hà khúc trí tẩu vong (vô) dĩ ưng .

《Liệt tử · Thang Vấn thiên 》

Tác giả – Tác phẩm

Sách Liệt Tử còn được tôn xưng là Xung hư chân kinh, tương truyền do một người thuộc phái đạo gia là Liệt Ngự Khấu (430-439 trước CN) soạn ra, nhưng truyền thuyết này còn bị đặt nhiều nghi vấn. Có lẽ nó là một công trình của tập thể nhiều thế hệ, đến đời Tấn (thế kỷ IV) được Trương Trầm sưu tập và chú giải, bản lưu truyền đến nay gồm 8 thiên, trình bày tư tưởng Đạo gia qua nhiều truyền thuyết, huyền thoại, ngụ ngôn… có ý nghĩa hàm súc, tế nhị. Bài trên đây là một ngụ ngôn đặc sắc có tính thần thoại chép ở thiên “Thang vấn“, kể chuyện Ngu công dời núi, phản ảnh nghị lực kiên cường của người dân lao động thời cổ trong việc cải tạo thiên nhiên, đồng thời nói lên chân lý: nếu có đủ quyết tâm và sự kiên trì thì khó khăn nào cũng vượt qua.

TỪ NGỮ

Thái Hàng, Vương Ốc: hai núi ở tỉnh Hà Nam (Trung Quốc)
Nhận: nhận (đơn vị đo chiều dài bằng 8 thước đời Chu, tương đương 6,48m bây giờ)
Ký Châu: thuộc Sơn Tây và Hà Bắc ngày nay
Hà Dương: thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay
Ngu công: ông già ngu ngốc
Trừng: khổ, khổ vì
Tắc: ngăn trở
Vu: đi vòng quanh
Dự: châu Dự, thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay
Hán: sông Hán (phát nguyên ở tỉnh Thiểm Tây)
Âm: phía nam
Tạp nhiên tương hứa: mọi người nhao nhao lên cùng biểu đồng tình
Hiến nghi: nêu lên mối ngờ vực
Khôi phủ: một ngọn núi nhỏ ở huyện Trần Lưu, tỉnh Hà Nam
Bột Hải: vùng biển ở phía đông tỉnh Hà Bắc
Ẩn thổ: tức U Châu, thời xưa thuộc vùng đông bắc Trung Quốc
Phu: người (đàn ông)
Khẩn: khai khẩn
Nhưỡng: đất
: cái sọt
Bổn: cái ky
Lân nhân: người láng giềng
Kinh Thành thị: họ Kinh Thành (họ kép)
Sương thê: người vợ góa
Di nam: đứa con trai sinh ra sau khi cha đã chết
Sấn: thay răng sữa (mọc răng vĩnh viễn)
Hà khúc: khúc quanh sông
Trí tẩu: ông già không ngoan
Chỉ: ngăn cản
Huệ: thông minh, sáng suốt
Mao: cỏ cây
Tức: thở
Cố: ngoan cố, cố chấp
Triệt: tẩy bỏ
Nhược: yếu đuối
Quỹ: tận, hết

NGỮ PHÁP

Thả: gần (phò từ), đặt trước số từ để biểu thị số lượng xấp xỉ.
Tằng bất: không từng, chưa từng (cụm từ quen dùng)
Như … hà: làm sao được…, làm thế nào được, làm gì … được?
Tuy: dù, dù cho, cho dù (liên từ)
Vô dĩ 亡以: dùng như 無以 , “không có gì để, không còn cách nào để, không thể”

DỊCH NGHĨA

Ngu công dời núi

Hai núi Thái Hàng, và Vương Ốc, chu vi rộng bảy trăm dặm, cao vạn nhận, vốn ở tại phía nam Ký Châu và phía bắc Hà Dương. Có ông Ngu công ở núi phía bắc, tuổi đã gần chín mươi, nhà ở đối diện với núi. Khổ vì phía bắc núi bị cản trở, khi ra vào đều phải đi vòng, ông bèn tập hợp người nhà bàn tính: “Ta cùng các con cố sức san bằng chướng ngại để thông với phía nam Dự Châu và phía nam sông Hán Thủy, có được không?”. Mọi người lao nhao lên cùng đồng ý.
Vợ ông nêu lên mối ngờ vực, nói: “Với sức (già) của ông, chưa từng san bằng nổi cái gò nhỏ Khôi Phủ, thì làm gì được núi Thái Hàng, Vương Ốc! Vả lại đất, đá biết đổ vào đâu?”. Mọi người xôn xao trả lời: “Quẳng nó bên bờ Bột Hải và chở đến phía bắc Ẩn Thổ là xong”. Thế là Ngu công dẫn ba người quảy gánh trong đám con cháu, cùng đục đá, đào đất, dùng ky, sọt vận chuyển đến bên bờ Bột Hải. Đứa con mồ côi của bà góa phụ gia đình họ Kinh Thành, mới thay răng sữa cũng chạy tung tăng theo giúp đỡ họ. Trải qua các mùa nóng lạnh, một năm họ mới về nhà một lần.
Có một cụ già thông minh ở chỗ khúc quanh sông, cười và ngăn cản ông rằng: “Ông thật chẳng thông minh! Với tuổi già sức yếu như vậy, chưa từng nhổ được một cây cỏ ở núi, thì sao làm gì được đống đất, đá thế kia!”. Ngu công thở dài, nói: “Đầu óc của ông thật cố chấp, cố chấp đến khó mà tẩy bỏ được, chẳng bằng được như đứa bé yếu đuối của bà góa phụ kia! Dù tôi có chết đi, con tôi vẫn còn đó; con lại sinh ra cháu, cháu lại sinh con; con lại có con, con của nó lại có cháu; con con cháu cháu, không cùng tận; mà núi thì không cao thêm, lo gì mà không san phẳng được?”. Cụ già thông minh ở khúc quanh sông không trả lời được.

Trần Văn Chánh dịch

 

Next »