Archive for December, 2007



TIÊU DAO DU [3]

December 31st, 2007

CHƯƠNG MỘT

THẢNH THƠI TỰ TẠI

【逍遙遊第一】  

肩吾問於連叔曰:「吾聞言於接輿,大而無當,往而不返。吾驚怖其言,猶河漢而無極也,大有徑庭,不近人情焉。」連叔曰:「其言謂何哉?」曰︰「藐姑射之山,有神人居焉,肌膚若冰雪,淖約若處子。不食五穀,吸風飲露。乘雲氣,御飛龍,而遊乎四海之外。其神凝,使物不疵癘而年穀熟。吾以是狂而不信也。」連叔曰:「然,瞽者無以與乎文章之觀,聾者無以與乎鐘鼓之聲。豈唯形骸有聾盲哉?夫知亦有之。是其言也,猶時女也。之人也,之德也,將旁礡萬物以為一世蘄乎亂,孰弊弊焉以天下為事!之人也,物莫之傷,大浸稽天而不溺,大旱金石流土山焦而熱。是其塵垢秕糠,將猶陶鑄堯舜者也,孰肯以物為事!」
  宋人資章甫而適越,越人斷髮文身,無所用之。堯治天下之民,平海內之政。往見四子藐姑射之山,汾水之陽,窅然喪其天下焉。

PHIÊN ÂM

Kiên Ngô vấn ư Liên Thúc viết :「ngô văn ngôn ư Tiếp Dư ,đại nhi vô đang đương ,vãng nhi bất phản .ngô kinh bố kì ngôn ,do Hà Hán nhi vô cực dã ;đại hữu kính đình ,bất cận nhân tình yên .」
Liên Thúc viết :「kì ngôn vị hà tai ?」
Viết :「Diểu cô xạ chi sơn ,hữu thần nhân cư yên .cơ phu nhược băng tuyết ,náo ước nhược xứ tử ;bất thực ngũ cốc ,hấp phong ẩm lộ ;thừa vân khí ,ngự phi long ,nhi du hồ tứ hải chi ngoại .kì thần ngưng ,sử vật bất 疪 (tì) lệ nhi niên cốc thục . Ngô dĩ thị cuồng nhi bất tín dã .」
Liên Thúc viết :「nhiên ,cổ giả kí dĩ dữ hồ văn chương chi quán (quan) ,lung giả kí (vô) dĩ dữ hồ chung cổ chi thanh (thinh) . Khởi duy hình hài hữu lung manh tai !phu tri diệc hữu chi . Thị kì ngôn dã , do thời nhữ dã . Chi nhân dã ,chi đức dã ,tương bàng bạc vạn vật dĩ vi nhất ,thế kì hồ loạn ,thục tệ tệ yên dĩ thiên hạ vi sự !chi nhân dã ,vật mạc chi thương ,đại tẩm khể thiên nhi bất nịch ,đại hạn kim thạch lưu thổ sơn tiêu nhi bất nhiệt . Thị kì trần cấu bệ khang, do đào chú Nghiêu Thuấn giả dã , thục khẳng dĩ vật vi sự !」
Tống nhân tư chương phủ nhi thích Việt ,Việt nhân đoạn phát văn thân ,vô sở dụng chi . Nghiêu trị thiên hạ chi dân ,bình hải nội chi chánh,vãng kiến tứ tử miểu Cô Xạ chi sơn ,phần thuỷ chi dương ,yểu nhiên táng kì thiên hạ yên .

DỊCH NGHĨA

Kiên Ngô hỏi Liên Thúc:
– Tôi thấy Tiếp Dư nói những lời khoa đại và không xác thực, đi mà không trở về, tôi sợ rằng những lời đó không biết đâu là cùng như dải Ngân hà, quái đản, bất cận nhân tình.
Liên Thúc hỏi:
– Ông ấy nói gì?
– Trên núi Cô Dạ xa xôi, có thần nhân ở, da họ trong trắng như băng tuyết, họ đẹp đẽ, mềm mại như gái trinh. Họ không ăn ngũ cốc, chỉ hít gió uống sương mà sống; họ cưỡi mây và rồng bay mà đi chơi khắp ngoài cõi bốn bể. Họ định thần mà làm cho vạn vật không bị bệnh tật, mùa màng năm nào cũng trúng. Tôi cho là nói bậy, không tin.
Liên Thúc bảo:
– Đúng vậy! kẻ đui không thấy được những màu sắc, đường nét đẹp đẽ, kẻ điếc không nghe được tiếng chuông, tiếng trống. Nào phải chỉ hình hài mới đui điếc, trí tuệ cũng đui điếc nữa. Lời đó là nói về anh đấy. Những thần nhân đó có đức cao nên hòa đồng được với vạn vật.
Người đời có cầu họ trị nước, họ cũng không thèm . Chịu khó nhọc về việc cõi tục này. Không có vật gì có thể làm hại họ được; nước có dân lên tới trời, họ cũng không bị chết đuối; trời có đại hạn tới nỗi kim thạch chảy ra, cháy cả rừng núi, đồng ruộng, họ cũng không thấy nóng. Dùng những trần cấu, cặn bã của họ có thể tạo thành những người như Nghiêu, Thuấn. Họ đâu có chịu lo những việc trần tục của chúng ta.
Một người nước Tống đem mũ lễ qua nước Việt bán. Nhưng người nước Việt cắt tóc, xâm mình, đâu có dùng những mũ ấy.
Vua Nghiêu trị dân, bình định hải nội rồi, bèn lên núi Cô Dạ ra mắt bốn hiền nhân [là Hứa Do, Niết Khuyết, Vương Nghê, Bị Y]. Khi trở về tới phía Bắc sông Phần (1), ông không biết gì nữa, quên mất thiên hạ của ông (2).

Nguyễn Hiến Lê dịch

CHÚ THÍCH

(1) Sông Phần nay ở tỉnh Sơn Tây.
(2) Vì bị bốn hiền nhân đó cảm hóa, không muốn trị dân theo chính sách hữu vi của mình nữa, mà chỉ muốn vô vi.

Xem {{post id=”tieu-dao-du-1″ text=”TIÊU DAO DU [1]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-2″ text=”TIÊU DAO DU [2]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-4″ text=”TIÊU DAO DU [4]”}}

TIÊU DAO DU [2]

December 31st, 2007

CHƯƠNG MỘT

THẢNH THƠI TỰ TẠI

【逍遙遊第一】  

堯讓天下於許由,曰:「日月出矣而爝火不息,其於光也,不亦難乎!時雨降矣而猶浸灌,其於澤也,不亦勞乎!夫子立而天下治,而我猶尸之,吾自視缺然。請致天下。」許由曰:「子治天下,天下既已治也。而我猶代子,吾將為名乎?名者,實之賓也,吾將為賓乎?鷦鷯巢於深林,不過一枝;偃鼠飲河,不過滿腹。歸休乎君,予無所用天下為!庖人雖不治庖,尸祝不越樽俎而代之矣。」

PHIÊN ÂM

Nghiêu nhượng thiên hạ ư Hứa Do ,viết :「Nhật nguyệt xuất hĩ ,nhi tước hoả bất tức ,kì ư quang dã ,bất diệc nan hồ !thời vũ giáng hĩ ,nhi do tẩm quán ,kì ư trạch dã ,bất diệc lao hồ !phu tử lập nhi thiên hạ trị ,nhi ngã do (du) thi chi ,ngô tự thị khuyết nhiên ,thỉnh trí thiên hạ .」
Hứa Do viết :「Tử trị thiên hạ ,thiên hạ kí dĩ trị dã ,nhi ngã do (du) đại tử ,ngô tương vi danh hồ ? Danh giả ,thật chi tân dã ,ngô tương vi tân hồ ? Tiêu liêu sào ư thâm lâm ,bất quá nhất chi ;yển thử ẩm hà ,bất quá mãn phúc . Quy hưu hồ quân !Dư vô sở dụng thiên hạ vi . Bào nhân tuy bất trị bào ,thi chúc bất việt tôn trở nhi đại chi hĩ .」

DỊCH NGHĨA

Vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho Hứa Do (1), bảo:
– Mặt trời, mặt trăng đã xuất hiện, đuốc làm sao còn sáng được nữa mà không tắt đi? Mưa đã đổ mà còn tưới ruộng làm gì cho phí sức? Phu tử (2) mà lên ngôi thì nước sẽ trị; tôi còn giữ hư vị này (như người đại diện cho người chết trong tang lễ), tự lấy làm xấu hổ. tôi xin giao thiên hạ cho phu tử.
Hứa Do đáp:
– Nhà vua trị nước, mà nước được bình trị. Bây giờ tôi lên thay, thế là cầu danh ư? Danh là khách của cái thực (3), tôi đóng cái vai khách sao? Con chim tiêu lieu (một loài chim nhỏ) , làm tổ trong rừng, chiếm bất quá một cành cây; con “yển thử” (4) uống nước sông, bất quá đầy bụng thì thôi. Xin nhà vua cứ giữ ngôi. Tôi có biết dùng thiên hạ làm gì đâu. Nếu người bếp mà không biết nấu ngướng thì người đại diện cho người chết (5) và người chủ tế cũng không bỏ chức vụ của mình mà thay người bếp được.

Nguyễn Hiến Lê dịch

CHÚ THÍCH

(1) Hứa Do: là một ẩn sĩ thời cổ, tự là Vũ Trọng, tương truyền vua Nghiêu nhường ngôi cho ông, ông không nhận, trốn vào núi ở.
(2) Vua Nghiêu trọng Hứa Do như bậc thầy mình nên gọi là “phu tử”
(3) Nghĩa là danh chỉ là “hư”
(4) Yến có nghĩa là tiềm phục, nép. Có sách bảo yển thử là một con vật hình giống con bò; Liou Kia Hway dịch là con tapir (con mạch).
(5) Nguyên văn là “thi”, người đại diện người chết trong tang lễ để con cái khi tế thấy như cha mẹ còn ngồi đó; do đó mà sau trỏ cái thây.

Xem {{post id=”tieu-dao-du-1″ text=”TIÊU DAO DU [1]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-3″ text=”TIÊU DAO DU [3]”}} | {{post id=”tieu-dao-du-4″ text=”TIÊU DAO DU [4]”}}

TIÊU DAO DU [1]

December 31st, 2007

CHƯƠNG MỘT

THẢNH THƠI TỰ TẠI

【逍遙遊第一】  

北冥有魚,其名為鯤。鯤之大,不知其幾千里也。化而為鳥,其名為鵬。鵬之背,不知其幾千里也;怒而飛,其翼若垂天之雲。是鳥也,海運則將徙於南冥。南冥者,天池也。齊諧者,志怪者也。諧之言曰:「鵬之徙於南冥也,水擊三千里,摶扶搖而上者九萬里,去以六月息者也。」野馬也,塵埃也,生物之以息相吹也。天之蒼蒼,其正色邪?其遠而無所至極邪?其視下也,亦若是則已矣。且夫水之積也不厚,則其負大舟也無力。覆杯水於坳堂之上,則芥為之舟;置杯焉則膠,水淺而舟大也。風之積也不厚,則其負大翼也無力。故九萬里,則風斯在下矣,而後乃今掊風;背負青天而莫之夭閼者,而後乃今將圖南。蜩與學鳩笑之曰:「我決起而飛,槍榆枋而止,時則不至而控於地而已矣,奚以這九萬里而南為?」適莽蒼者,三餐而反,腹猶果然;適百里者,宿舂糧;適千里者,三月聚糧。之二蟲又何知!小知不及大知,小年不及大年。奚以知其然也?朝菌不知晦朔,蟪蛄不知春秋,此小年也。楚之南有冥靈者,以五百歲為春,五百歲為秋;上古有大椿者,以八千歲為春,八千歲為秋。此大年也。而彭祖乃今以久特聞,眾人匹之,不亦悲乎!湯之問棘也是已。窮髮之北有冥海者,天池也。有魚焉,其廣數千里,未有知其脩者,其名為鯤。有鳥焉,其名為鵬,背若泰山,翼若垂天之雲,摶扶搖羊角而上者九萬里,絕雲氣,負青天,然後圖南,且適南冥也。斥鴳笑之曰:「彼且奚適也?我騰躍而上,不過數仞而下,翱翔蓬蒿之間,此亦飛之至也,而彼且奚適也?」此小大之辯也。故夫知效一官,行比一鄉,德合一君,而徵一國者,其自視也亦若此矣。而宋榮子猶然笑之。且舉世而譽之而不加勸,舉世而非之而不加沮,定乎內外之分,辯乎榮辱之竟,斯已矣。彼其於世,未數數然也。雖然,猶有未樹也。夫列子御風而行,泠然善也,旬有五日而反。彼於致福者,未數數然也。此雖免乎行,猶有所待者也。若夫乘天地之正,而御六氣之辯,以遊無窮者,彼且惡乎待哉!故曰:至人無己,神人無功,聖人無名。

PHIÊN ÂM

Bắc minh hữu ngư ,kì danh vi côn . Côn chi đại , bất tri kì kỉ thiên lí dã . Hoá nhi vi điểu ,kì danh vi Bằng . Bằng chi bối , bất tri kì kỉ thiên lí dã . Nộ nhi phi , kì dực nhược thuỳ thiên chi vân . Thị điểu dã , hải vận tắc tướng tỉ ư Nam minh . Nam minh giả , thiên trì dã .
《Tề Hài 》giả ,chí quái giả dã . Hài chi ngôn viết :「Bằng chi tỉ ư nam minh dã ,thuỷ kích tam thiên lí ,đoàn phù dao nhi thượng giả cửu vạn lí ,khứ dĩ lục nguyệt tức giả dã .」Dã mã dã ,trần ai dã ,sinh vật chi dĩ tức tương xuy dã . Thiên chi thương thương ,kì chính sắc da ?kì viễn nhi vô sở chí cực da ? Kì thị hạ dã ,diệc nhược thị tắc dĩ hĩ .
Thả phu thuỷ chi tích dã bất hậu ,tắc kì phụ đại chu dã vô lực . Phúc bôi thuỷ ư ao đường chi thượng ,tắc giới vi chi chu ;trí bôi yên tắc giao ,thuỷ thiển nhi chu đại dã . Phong chi tích dã bất hậu ,tắc kì phụ đại dực dã vô lực . Cố cửu vạn lí tắc phong tư tại hạ hĩ ,nhi hậu nãi kim bồi phong ,bối phụ thanh thiên nhi mạc chi yêu át (ứ) giả ,nhi hậu nãi kim tương đồ Nam .
Điêu dữ học cưu tiếu chi viết :「ngã quyết khởi nhi phi ,thương du phương nhi chỉ ,thời tắc bất chí nhi khống ư địa nhi dĩ hĩ , hề dĩ chi cửu vạn lí nhi nam vi ?」thích mãng thương giả ,tam xan nhi phản ,phúc do quả nhiên ;thích bách lí giả ,túc thung lương ;thích thiên lí giả ,tam nguyệt tụ lương .chi nhị trùng hựu hà tri !
Tiểu tri bất cập đại trí ,tiểu niên bất cập đại niên . Hề dĩ tri kì nhiên dã ? Triêu khuẩn bất tri hối sóc ,huệ cô bất tri xuân thu ,thử tiểu niên dã . Sở chi nam hữu minh linh giả ,dĩ ngũ bách tuế vi xuân ,ngũ bách tuế vi thu ;Thượng cổ hữu đại xuân giả ,dĩ bát thiên tuế vi xuân ,dĩ bát thiên tuế vi thu (:thử đại niên dã ). Nhi Bành Tổ nãi kim dĩ cửu đặc văn ,chúng nhân thất chi ,bất diệc bi hồ !
Thang chi vấn cấc dã thị dĩ . Cùng phát chi bắc hữu minh hải giả ,thiên trì dã . Hữu ngư yên ,kì quảng sổ thiên lí ,vị hữu tri kì tu giả ,kì danh vi côn . Hữu điểu yên ,kì danh vi bằng ,bối nhược Thái sơn ,dực nhược thuỳ thiên chi vân , đoàn phù dao dương giác nhi thượng giả cửu vạn lí ,tuyệt vân khí ,phụ thanh thiên ,nhiên hậu đồ Nam ,thả thích Nam minh dã . Xích yến tiếu chi viết :「bỉ thả hề thích dã ? ngã đằng dược nhi thượng ,bất quá sổ nhận nhi hạ , ngao tường bồng hao chi gian ,thử diệc phi chi chí dã .nhi bỉ thả hề thích dã ?」」thử tiểu đại chi biện dã .
Cố phu tri hiệu nhất quan ,hành tỉ nhất hương ,đức hợp nhất quân ,nhi chưng nhất quốc giả ,kì tự thị dã diệc nhược thử hĩ . Nhi Tống Vinh tử do du nhiên tiếu chi . Thả cử thế nhi dự chi nhi bất gia khuyến ,cử thế nhi phi chi nhi bất gia thư ,định hồ nội ngoại chi phận ,biện hồ vinh nhục chi cảnh ,tư dĩ hĩ . Bỉ kì ư thế ,vị sổ sổ nhiên dã . Tuy nhiên ,do hữu vị thụ dã . Phu Liệt tử ngự phong nhi hành ,linh nhiên thiện dã ,tuần hữu ngũ nhật nhi hậu phản ;bỉ ư trí phúc giả ,vị sổ sổ nhiên dã . Thử tuy miễn hồ hành ,do hữu sở đãi giả dã . Nhược phu (phù) thừa thiên địa chi chánh ,nhi ngự lục khí chi biện ,dĩ du vô cùng giả ,bỉ thả ố hồ đãi tai !Cố viết :chí nhân vô kỉ ,thần nhân vô công ,thánh nhân vô danh .

DỊCH NGHĨA

Biển Bắc có con cá gọi là cá côn, mình dài không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim gọi là chim bằng, lưng rộng khỏang biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó như đám mây trên trời. Biển (Bắc) động thì nó dời về biển Nam, biển Nam là Ao trời.
Tề Hài là sách ghi những chuyện quái dị. Sách đó bảo khi con chim bằng dời xuống biển Nam, nó đập nước tung tóe lên ba ngàn dặm rồi nương gió lốc cuốn lên cao chin vạn dặm. Nó xuống biển Nam vào tháng 6, lúc gió nổi lên.
(Ở dưới nó là) Hơi nước bốc lên – coi tựa như những con ngựa hoang – và bụi cát, cùng hơi thở các sinh vật. (Mà ở trên nó) màu thanh thiên kia phải là bản sắc của trời không hay là vì trời xa thăm thẳm mà ta nhìn thấy như vậy? Vì từ trên cao nhìn xuống thì cũng thấy một màu đó.
Nước không sâu thì không chở được thuyền lớn. Đổ một chén làm thuyền được; nếu thả cái chén đó xuống thì chén chạm đất, không dày thì không đỡ được những cánh chim lớn. Cho nên con chim bằng phải bay lên cao chin vạn dặm để có lớp không khí dày đỡ nó ở dưới, rồi lưng nó mới đội trời xanh, không hề bị cản trở, mà bay xuống biển Nam được.
Con ve sầu và con chim cưu cười con chim bằng rằng: “Chúng ta bay vù lên cây du, cây phượng, có lúc bay không tới mà rớt xuống đất. Hà tất phải bay cao chin vạn dặm để xuống phương Nam?
Người nào muốn tới một chỗ gần ở ngoài thành thì chỉ cần mang theo lương thực cho đủ ba bữa, mà khi về bụng hãy còn no để nghỉ đêm; muốn đi một ngàn dặm thì phải chuẩn bị lương thực cho ba tháng. Hai con vật nhỏ kia (tức con ve sầu và con chim cưu) biết đâu lẽ đó.
Trí lực nhỏ không thể so sánh với trí lực lớn; cuộc đời ngắn không thể so sánh được với cuộc đời dài. Làm sao biết được điều ấy? Như cây nấm chỉ sống một buổi sáng thì không biết được trọn một ngày, con huệ cô (một loại ve sầu, sinh mùa xuân thì mùa hè chết, sinh mùa hè thì mùa thu chết), không biết được trọn một năm; đó là những loài cuộc đời ngắn ngủi. Ở miền Nam nước Sở, có một con rùa thiêng, mùa xuân của nó dài năm trăm năm; mùa thu dài năm trăm năm; đời thượng cổ có một cây “xuân” lớn, mà mùa xuân dài tới tám ngàn năm, mùa thu dài cũng tám ngàn năm, đó là những loài cuộc đời lâu dài. Ông Bành Tổ (chỉ sống bảy trăm năm) mà ngày nay hễ nói tới thọ, ai cũng cho ông bậc nhất, chẳng đáng buồn ư?
Trong cuộc đàm thoại giữa ông Thang và ông Cách cũng có một đoạn như vầy: Ở phương Bắc hoang dã có một cái biển gọi là “Ao trời”, trong biển có một con cá chiều ngang rộng mấy ngàn dặm, không biết chiều dài là bao nhiêu, gọi là cá côn; có một con chim gọi là chim bằng, lưng lớn như núi Thái Sơn, cánh như đám mây rủ ở trên trời, nó nương ngọn gió lốc, xoắn như sừng cừu, bay lên cao chin vạn dăm, vượt lên khỏi các đám mây, lưng đội trời xanh mà bay về biển Nam.
Một con chim cút ở trong cái đầm nhỏ cười nó: “Con đó bay đi đâu vậy? Tôi lên cao độ vài nhẫn rồi xuống, bay liệng trong đám cỏ bồng cỏ cảo, cho bay như vậy là đủ rồi. Con đó bay đi đâu vậy kìa?”.
Lớn với nhỏ khác nhau như vậy đó.
Có người tài trí đủ để làm một chức quan, có người hạnh làm gương được cho một làng, có người đức đáng làm vu mà được cả nước phục, nhưng dù thuộc hạng nào thì cũng đều tự đắc như con chim cút kia vậy.
Ông Vinh tử nước Tống cười họ. Dù cả nước khen ông, ông cũng không mừng, cả nước chê ông, ông cũng không buồn, vì ông biết phân biệt nội và ngoại, vinh và nhục. Người như ông thật hiếm ở đời, nhưng ông chỉ biết tự thủ (tự giữ mình) thôi, chứ chưa tự thích nghi với vật mà thành bậc đại.
Ông Liệt tử cưỡi gió mà bay, thật nhẹ nhàng, khoan khoái, mưới lăm ngày rồi về. Có phúc lớn như ông thật hiếm ở đời, tuy khỏi phải đi, nhưng ông vẫn còn tùy thuộc một cái gì (tức đợi cho gió nổi lên).
Đến như hạng người làm chủ được cái chính đạo của trời đất, chế ngự được lục khí để ngao du trong vũ trụ vô biên, thì còn tùy thuộc cái gì nữa đâu? Cho nên người ta bảo “Bậc chí nhân (có đức tuyệt cao) thì quên mình, bậc thần nhân thì không lập công. Bậc thánh nhân thì không lưu danh”.

Nguyễn Hiến Lê dịch

PHỤ LỤC

Trong phim “Hiệp khách hòa thượng” cũng có một đoạn đối thoại tương tự như trong Tiêu Dao Du. Lổ Đạt cùng đường bí lối, không biết đi đâu và sẻ làm gì, tình cờ trên đường đi gặp Trí Chân Đại Sư. Sau đó Lỗ Đạt được Trí Chân cảm hóa; dùng lời lẽ và tư tưởng của Trang để giáo hóa Lổ Đạt. Về sau Lỗ Đạt “ngộ” và được thu làm đệ tử phật môn lấy danh hiệu là Lỗ Trí Thâm.
Lỗ Trí Thâm là một trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc trong truyện Thủy Hử.

Xem {{post id=”tieu-dao-du-2″ text=”TIÊU DAO DU [2]”}}
Online Videos by Veoh.com

THIÊN THƯỢNG 27

December 27th, 2007

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY

善行無轍跡﹔善言無瑕謫﹔善數不用籌策﹔善閉無關楗而不可開﹔善結無繩約而不可解。是以聖人常善救人,故無棄人﹔常善救物,故無棄物。是謂襲明。故善人者,不善人之師﹔不善人者,善人之資。不貴其師,不愛其資,雖智大迷。是謂要妙。

PINYIN

shànxíng wú chè jī﹔shànyán wú xiázhé﹔shàn shù bùyòng chóucè﹔shàn bì wú guān jiàn ér bù kě kāi﹔shàn jié,wú shéng yuē ér bù kě jiě。shìyǐ shèngrén cháng shàn jiù rén,gù wú qì rén﹔cháng shàn jiù wù,gù wú qì wù。shì wèi xí míng。gù shàn rén zhě,bùshàn rén zhī shī﹔bùshàn rén zhě,shàn rén zhī zī。bù guì qí shī,bù ài qí zī,suī zhì dà mí。shì wèi yào miào。

PHIÊN ÂM

Thiện hành vô triệt tích ﹔thiện ngôn vô hà trích ﹔thiện số bất dụng trù sách ﹔thiện bế vô quan kiện nhi bất khả khai ﹔thiện kết vô thằng ước nhi bất khả giải .  Thị dĩ thánh nhân thường thiện cứu nhân , cố vô khí nhân ﹔thường thiện cứu vật , cố vô khí vật . thị vị tập minh .  Cố thiện nhân giả , bất thiện nhân chi sư ﹔bất thiện nhân giả , thiện nhân chi tư .  Bất quý kì sư , bất ái kì tư , tuy trí đại mê .  Thị vị yếu diệu .

ANH NGỮ

A good traveler leaves no tracks…
A good traveler leaves no tracks.
Good speech lacks faultfinding.
A good counter needs no calculator.
A well-shut door will stay closed without a latch.
Skillful fastening will stay tied without knots.
It is in this manner that the sage is always skillful in elevating people.
Therefore she does not discard anybody.
She is always skillful in helping things
Therefore she does not discard anything.
This is called “the actualization of her luminosity.”
Hence, the good are the teachers of the not-so-good.
And the not-so-good are the charges of the good.
Not valuing your teacher or not loving your students:
Even if you are smart, you are gravely in error.
This is called Essential Subtlety.

Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

khéo đi thì không để lại dấu xe, vết chân; khéo nói thì không có lỗi lầm; khéo tính thì không dùng thẻ; khéo đóng thì không dùng then, ráng mà mở không được; khéo buộc thì không dùng dây mà cởi không được.
Cho nên thánh nhân giỏi cứu người mà không ai bị bỏ; giỏi cứu vật mà không vật nào bị bỏ. Như vậy là sáng lòng [đức của mình và của người và vật cùng nhau sáng tỏ].
Cho nên người thiện [người đắc đạo] là thầy của người không thiện [người không đắc đạo], người thường; người không thiện là của dùng để người thiện mượn. Không trọng thầy, không yêu của dùng thì dù cho không cũng là lầm lẫn lớn. Thế gọi là cốt yếu, nhiệm màu.

LỜI BÀN

 

Đoạn đầu có thể hiểu là: khéo xử sự thì [thuận tự nhiên nên] không lưu lại dấu vết; khéo nói thì [trầm mặc, ít nói, nên] không lỗi lầm, khéo tính toán thì [vô tâm, vô trí nên] không ùng mưu lược; khéo lung lạc người khác thì [thành thực với người nên] không cần giam hãm người, người cũng không bỏ mình mà đi; khéo kết nạp nhân tâm thì không cần trói buộc người, người cũng không bỏ mình mà đi.
Đại ý của chương là: cứ thuận tự nhiên, đừng có tư ý, mưu mô thì dùng được mọi người, không phải bỏ ai, mình dạy cho người, người giúp đỡ lại mình mà đức mình càng thêm tỏ

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

TỪ NGỮ

 善行 【shànxíng】 n. thiện hành, hành động nhân từ nhân đức, rộng lượng, benevolent action

瑕谪[-謫] 【xiázhé】 hà trích, nhược điểm, blemishes; errors

筹策[籌-] 【chóucè】 trù sách, dự tính, plan; procedure; move

无關(S关) 【guān】 quan, đóng, shut

楗 【jiàn】 (书) kiện, door bolt

繩(S绳) 【shéng】 thằng, dây, rope, cord

約(Simplified 约) 【yuē】 ước, (adv) around, approximately; arrange; appointment

是以 shìyǐ conj. thị dĩ, cho nên, vì vậy, therefore; hence

棄(Simplified 弃) 【qì】khí, bỏ, abandon, give up

是谓[-謂] 【shìwèi】 thị vị, đây gọi là…, this is what is called…

[Hoa Sơn bổ sung phần từ ngữ]

Tăng

December 26th, 2007

僧者,僧伽之省稱。意為和合衆。和有六種:一戒和同修。二見和同解。三身和同住。四利和同均。五口和無諍。六意和同悦。故於僧字,實佛弟子團體之名也。一人,二人,三人皆不得稱僧,必須西人以上,乃可稱僧。僧字,乃佛弟子之團體名稱,故應固結僧團,協力護法,非分外事也。

 PINYIN

sēng zhě,sēng jiā zhī shěng chēng。yì wèi héhé zhòng。hé yǒu liù zhǒng:yī jiè hé tóng xiū。èr jiàn hé tóng jiě。sān shēn hé tóng zhù。sì lì hé tóng jūn。wǔ kǒu hé wú zhēng。liù yì hé tóng yuè。gù yú sēng zì,shí fó dìzǐ tuán tǐ zhī míng yě。

yī rén,èr rén,sān rén jiē bù dé chēng sēng,bì xū xī rén yǐ shàng,nǎi kě chēng sēng。sēng zì,nǎi fó dìzǐ zhī tuántǐ míng chēng,gù yìng gù jié sēng tuán,xié lì hù fǎ,fēi fēn wài shì yě。

PHIÊN ÂM

Tăng giả , tăng già chi tỉnh xưng . Ý vi hoà hợp chúng. Hoà hữu lục chủng :nhất, giới hoà đồng tu . Nhị, kiến hoà đồng giải . Tam, thân hoà đồng trụ . Tứ, lợi hoà đồng quân . Ngũ , khẩu hoà vô tránh . Lục, ý hoà đồng duyệt . Cố ư tăng tự , thực phật đệ tử đoàn thể chi danh dã .
Nhất nhân , nhị nhân , tam nhân giai bất đắc xưng tăng , tất tu tứ nhân dĩ thượng , nãi khả xưng tăng . Tăng tự , nãi phật đệ tử chi đoàn thể danh xưng , cố ưng cố kết tăng đoàn , hiệp lực hộ pháp , phi phân ngoại sự dã .

Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

Tác giả – Tác phẩm

Đây là bài thứ 3 trong quyển 1 sách Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư.

TỪ NGỮ

Tăng: sư nam (đàn ông đi tu đạo phật)
Tăng già: đoàn thể đệ tử phật, chỉ đoàn thể các vị tì kheo, tì kheo ni, cũng như các sa di (trong nhiều trường hợp, các cư sĩ cũng được liệt vào Tăng già).
Chủng: loại
Quân: chia đều
Tránh: cãi.
Thực: thật, thực (là)(phó từ)
Cố kết: kết chặt, củng cố, đoàn kết.
Hiệp lực: hợp sức
Hộ pháp: bảo vệ chính pháp của Phật

NGỮ PHÁP

Bất đắc: không được (“bất” là phó từ, “đắc” là trợ động từ)
Tất tu: cần phải, ắt phải (phó từ)
Dĩ thượng: trở lên (cụm từ quen dùng)
Nãi: a. mới, thì mới (phó từ) ; b. là, chính là (dùng như đồng động từ trong một kết cấu định nghĩa).
Danh từ hay cụm danh từ có thể làm định ngữ để bổ nghĩa cho danh từ khác một cách trực tiếp hoặc thông qua trợ từ kết cấu 之.

DỊCH NGHĨA

Tăng, là tiếng kêu tắt của hai chữ “Tăng già” có nghĩa là “hoà hợp chúng”, ý nghĩa là một nhóm người có tánh cách hòa hơp và cùng ở chung với nhau. Hòa hợp có sáu nghĩa: Một, đồng một giới luật hoà thuận để cùng nhau tu tập; hai, sự thấy biết hòa thuận để giải thích cho nhau hiểu; ba, thân thì hòa thuận để chia đồng đều; năm, lời nói phải hòa thuận không nên cãi lẫy tranh hơn thua; sáu, tâm ý luôn luôn hòa thuận, vui vẻ tán thành ý kiến hay và tùy hỉ học hạnh tốt…
Đủ sáu nghĩa trên, mới gọi là “Tăng”. Chữ Tăng đây, chính là một danh từ chung chỉ chung cho một đoàn thể đệ tử của Phật vậy.
Một người, hai người, ba người đều không thể gọi làTăng; từ bốn người sắp lên mới được gọi là Tăng. Chữ Tăng đã là tiếng gọi chung cho một đoàn thể đệ tử của Phật, thì lẽ tất nhiên ta phải củng cố đoàn kết Tăng già, hiệp lực hộ pháp, không phải là việc ngoài bổn phận vậy.

Thích Hành Trụ dịch

THIÊN THƯỢNG 26

December 24th, 2007

laotzu.gif

LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH

CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU

重為輕根,靜為躁君。是以聖人終日行不離輜重。雖有榮觀,燕處超然。奈何萬乘之主,而以身輕天下?輕則失根,躁則失君。

PINYIN

zhòng wèi qīng gēn,jìng wèi zào jūn 。shìyǐ shèngrén zhōngrì xíng bùlí zīzhòng。suī yǒu róng guān,yàn chù chāo rán。nàihé wànchéng zhī zhǔ,ér yǐ shēn qīng tiānxià?qīng zé shī gēn,zào zé shī jūn。

PHIÊN ÂM

Trọng vi khinh căn , tĩnh vi táo quân .  Thị dĩ thánh nhân chung nhật hành bất li tri trọng .  Tuy hữu vinh quan , yên xử siêu nhiên .  Nại hà vạn thặng chi chủ , nhi dĩ thân khinh thiên hạ ? khinh tắc thất căn , táo tắc thất quân .

ANH NGỮ

Heaviness is the root of lightness…
Heaviness is the root of lightness.
Composure is the ruler of instability.
Therefore the sage travels all day
Without putting down his heavy load.
Though there may be spectacles to see
He easily passes them by.
This being so
How could the ruler of a large state
Be so concerned with himself as to ignore the people?
If you take them lightly you will lose your roots.
If you are unstable, you will lose your rulership.

Translated by Charles Muller, Tōyō Gakuen University

DỊCH NGHĨA

Nặng là gốc rễ của nhẹ, tĩnh là chủ của náo động; Cho nên thánh nhân (tức vua) suốt ngày đi không lìa xe chở đồ dùng (nặng) tuy được sự sang đẹp mà lòng nhàn tĩnh vượt lên cả (coi thường ngoại vật).
Ông vua một nước có vạn cỗ xe (một nước lớn) sao lại có thể lấy thân coi nhẹ thiên hạ? Nhẹ thì mất gốc rễ, náo động thì mật chủ.

LỜI BÀN

 

Chữ quan trong câu nhì có thể đọc là quán; vinh quán là chỗ ở sang trọng.
Cái gì nặng thì chế ngự được cái nhẹ; cái gì tĩnh thì chế ngự được cái náo động. Nặng, tĩnh là “thường” (trái với biến); nhẹ, náo động là biến. Người theo đạo giữ “thường” mà bỏ biến.
Lão tử khuyên các nhà cầm quyền phải dè dặt, thận trọng, và đừng để cho ngoại vật, vinh hoa phú quý làm động lòng.

Nguyễn Hiến Lê dịch và chú giải

TỪ NGỮ

圣人(聖人) thánh nhân 【shèngrén】 n. sage, saint 

躁 táo 【zào】 mạnh mẽ, dữ dội, impetuous

君 quân 【jūn】 vua chúa, người thống trị, supreme ruler

是以 thị dĩ 【shìyǐ】 conj. vì vậy, cho nên, therefore; hence

终日[終-] chung nhật 【zhōngrì】 n. all day (long)

不离[-離] bất li 【bùlí】 not far off; not bad

辎重[輜-] 【zīzhòng】 n. hành lý, impedimenta

榮[荣] vinh 【róng】 honor

觀(S观) quán, quan 【guān】 view; 道觀 đạo quán temple

燕 yến 【yàn】 pleasure; joy – 處(S处) xử 【chù】 manage

超然 siêu nhiên 【chāorán】 ①xa rời, lánh xa, aloof; detached; independent ②siêu việt, hơn hẳn, transcendent

奈何 nại hà 【nàihé】 tại sao, why?, for what reason?, how handle?

万乘 vạn thặng [萬-] 【wànshèng】 n. vua, the emperor

而 nhi 【ér】 conj. and; and yet;然而 【rán’ér】 yet

[Hoa Sơn bổ sung phần từ ngữ]

Next »