Archive for November, 2007



Đại đồng

November 30th, 2007

LỄ KÝ

 

昔仲尼與於蜡賓,事畢,出遊於觀之上,喟然而嘆。仲尼之嘆,蓋嘆魯也。言偃在側曰:「君子何嘆?」孔子曰:「大道之行也,與三代之英,丘未之逮也,而有志焉。大道之行也,天下為公。選賢與能,講信脩睦,故人不獨親其親,不獨子其子,使老有所終,壯有所用,幼有所長,(矜)鰥,寡,孤,獨,廢疾者,皆有所養。男有分,女有歸。貨,惡其棄於地也,不必藏於己;力,惡其不出於身也,不必為己。是故,謀閉而不興,盜竊亂賊而不作,故外戶而不閉,是謂大同。」

Đại đồng

Tích Trọng Ni dữ ư lạp tân, sự tất, xuất du ư quán chi thượng, vị nhiên nhi thán. Trọng Ni chi thán, cái thán Lỗ dã. Ngôn yển tại trắc, viết :”Quân tử hà thán?”. Khổng tử viết:”Đại đạo chi hành dã, dữ tam đại chi anh, Khâu vị chi đãi dã, nhi hữu chí yên.  Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công. tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục, cố nhân bất độc thân kì thân, bất độc tử kì tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trường, quan, quả, cô, độc, phế tật giả, giai hữu sở dưỡng; nam hữu phận ,nữ hữu quy; hoá, ố kì khí ư địa dã, bất tất tàng ư kỉ; lực, ố kì bất xuất ư thân dã, bất tất vi kỉ. Thị cố, mưu bế nhi bất hưng, đạo thiết loạn tặc nhi bất tác, cố ngoại hộ nhi bất bế, thị vị đại đồng” 

Tác giả – Tác phẩm

Bài nầy trích trong thiên “Lễ vận” chương “Đại đồng“, mô tả ước mơ về một xã hội công bằng, lý tưởng trong tương lai – một xã hội đại đồng, khi đó thiên hạ, của cải là của chung của mọi người.

DỊCH NGHĨA:

Đại đồng
 
Xưa, Trọng Ni làm tân khách, dự lễ tế chạp ở nước Lỗ.  Việc đã xong, ra nghỉ chơi ở chỗ môn khuyết, ngài bùi ngùi mà than.  Trọng Ni than đó chừng than nước Lỗ.  Ngôn Yển ở bên, nói: “Người quân tử than gì thế?”.  Khổng Tử đáp: “Khâu này không được kịp thấy đại đạo thi hành và các bậc anh hiền ở Tam đại, mà chỉ có chí ở việc làm của các anh hiền ấy thôi.  “Đại đạo mà thi hành thì thiên hạ là công cộng (của chung), kén người anh hiền, của người tài năng, giảng điều tin thực, sửa điều hòa mục, nên người ta không riêng thân người thân mình, không riêng yêu con cái mình, khiến cho người già có cái nương dựa cuối đời, người trẻ có việc làm để thi thố, người bé có sự chăn dắt để lớn lên; hạng quan phu, quả phụ, côi cút, đơn chiếc và tàn tật đều được nuôi dưỡng; con trai có phận, con gái có nơi chốn để nương về; đối với tài hóa, ghét rằng rơi vãi ở đất, không cần chứa cất ở nơi mình; đối với sức lực, ghét rằng không ra từ mình, không cần phải làm vì mình.  Ấy cho nên mưu mô đều dẹp tắt mà không dấy lên, trộm cắp giặc cướp không nổi dậy; cổng ngoài không phải đóng, thế gọi là đại đồng.”

Hoàng Trúc Thâm dịch
Tư tưởng đại đồng trong cổ học Trung Hoa, NXB Văn Hoá Hà Nội 1950

 

Hà chính mãnh ư hổ

November 30th, 2007

LỄ KÝ

 

【苛政猛於虎】

孔子過泰山側,有婦人哭於墓者而哀。夫子式而聽之,使子路問之,曰:子之哭也,壹似重有憂者。乃曰:然。昔者吾舅死於虎,吾夫又死焉,今吾子又死焉。夫子問:何為不去也?曰:無苛政。夫子曰:小子識之,苛政猛於虎也。

 

Hà chính mãnh ư hổ

Khổng Tử quá thái sơn trắc, hữu phụ nhân khốc ư mộ giả nhi ai. Phu tử thức nhi thính chi, sử Tử Lộ vấn chi ,viết:”Tử chi khốc dã, nhất tự trùng hữu ưu giả.” nãi viết :”Nhiên. Tích giả ngô cữu tử ư hổ, ngô phu hựu tử yên, kim ngô tử hựu tử yên.” Phu tử vấn :”Hà vị bất khứ dã ?” Viết :”Vô hà chính .” Phu tử viết :”Tiểu tử chí chi, hà chính mãnh ư hổ dã.”

Tác giả – Tác phẩm

Lễ ký cũng là một trong 5 bộ sách trong hệ thống Ngũ kinh của Nho giáo, có lẽ là công trình tập thể của nhiều thế hệ.  Đến cuối đời Hán, Mã Dung chấn chỉnh lại còn 49 thiên như ngày nay, nội dung ghi lại những điều có liên quan đến chế độ, lể nghi, phép tắc của Trung Quốc cổ đại, đồng thời cũng bao hàm những tư tưởng về chính trị, luân lý, triết học… Bài nầy trích trong thiên “Đàn cung hạ”, dùng một mẩu chuyện ngắn để tố cáo một cách thâm trầm tế nhị chính sách hà khắc tàn bạo của nhà cầm quyền Trung Quốc đương thời.

DỊCH NGHĨA:

Chính sách hà khắc tàn bạo hơn cọp
 
Khổng Tử đi qua bên núi Thái Sơn, có một người đàn bà khóc ở mộ rất bi thương.  Phu tử tựa vào đòn ngang xe cúi mình xuống để nghe, sai Tử Lộ hỏi bà ta rằng: “Tiếng khóc của bà dường như có nhiều nỗi đau buồn?”.  (Người đàn bà) bèn trả lời rằng: “Đúng thế.  Ngày trước cha chồng tôi chết vì cọp”.  Phu tử nói rằng: “Tại sao bà không bỏ đi?”.  (Người đàn bà) đáp: “Ở đây không có chính sách hà khắc”.  Phu tử nói rằng: “Các trò hãy ghi nhớ điều đó.  Chính sách hà khắc còn tàn bạo hơn cọp”.

Trần Văn Chánh dịch

 

Thiên tôn địa ti

November 30th, 2007

THIÊN THƯỢNG

CHƯƠNG 1

天尊地卑,乾坤定矣﹔卑高以陳,貴賤位矣﹔
動靜有常,剛柔斷矣﹔
方以類聚,物以群 分,吉凶生矣﹔
在天成象,在地成形,變化見矣

PHIÊN ÂM 

Thiên tôn địa ti, Càn Khôn định hĩ; ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ.
Động tĩnh hữu thường, cương nhu đoán hĩ;
Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hĩ;
Tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, biến hoá hiện hĩ.
 
Chu Dịch, Hệ từ truyện (cũng gọi là ĐẠI TRUYỆN)

Tác giả – Tác phẩm

Bài nầy trích ở phần đầu “Hệ từ thượng truyện” của Chu Dịch, bàn về sự biến hóa động tĩnh của vũ trụ vạn vật theo luật âm dương.

DỊCH NGHĨA:

Trời cao đất thấp, vị trí của quẻ Càn quẻ Khôn mới được (thánh nhân) xác định; cao thấp đã bày ra thì sự quý và tiện của sự vật mới đâu vào ngôi vị nấy.
Động và tĩnh của trời đất đã có quy luật nhất định thì tính chất dương cương và âm nhu mới phân biệt rạch ròi.
Các quan niệm ý thức trong thiên hạ tụ họp nhau theo loại, (còn) các loài động thực vật thì phân ra theo nhóm, từ đó mới sinh ra cát và hung.
Những vật trên trời (nhật nguyệt tinh thần…) thành ra nhiều biểu tượng; những vật ở dưới đất (núi sông, động thực vật…) thành ra nhiều hình thể; lẽ biến hóa như vậy đã hiện rõ.
 
Trần Văn Chánh dịch

Tích thiện chi gia

November 30th, 2007

TỨ THƯ – NGŨ KINH

KINH DỊCH

積善之家

積善之家,必有餘慶﹔積不善之家,必有餘殃。臣弒其君,子弒其父,非一朝一夕之故,其所由來者漸矣,由辯之不早辯也。《易》曰:履霜堅冰至。蓋言順也。

Tích thiện chi gia

“Tích thiện chi gia,tất hữu dư khách﹔tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương. Thần thí kì quân, tử thí kì phụ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố, kì sở do lai giả tiệm hĩ, do biện chi bất tảo biện dã.《Dịch》viết :’lí sương kiên băng chí.’ cái ngôn thuận dã.” 

Chu Dịch,
Quẻ Khôn, Văn ngôn truyện

 

Tác giả – Tác phẩm

Kinh Dịch (còn gọi là Chu Dịch) là một trong những bộ sách triết lý đồ sộ nhất của Trung Quốc cổ đại, được xếp vào hệ thống Ngũ kinh của Nho giáo.  Tương truyền Chu Dịch do Chu Văn Vương (khoảng thế kỷ 11 trước CN) làm ra, được Khổng Tử (551 – 479 trước CN) san định, dẫn giải.  Bài này trích trong Văn ngôn truyện của Quẻ Khôn, nói về luật tích tiệm.

DỊCH NGHĨA:

Nhà tích điều thiện
 
Nhà tích chứa điều thiện tất có phúc thừa về sau; nhà tích chứa điều ác tất có họa thừa về sau.  Bầy tôi giết vua, con giết cha, không phải nguyên do một sớm một chiều, nguồn gốc của nó là lần lần phát sinh ra, do không sớm nhận rõ thấy chân tướng vậy.  Kinh Dịch nói: Đạp lên sương thì biết sắp có băng cứng.  Đại để là phải thận trọng ngay từ trước.
 
Trần Văn Chánh dịch

Bốc cư

November 29th, 2007

SỞ TỪ

【卜居】

 屈原既放,三年不得復見,竭知盡忠,而蔽鄣於讒,心煩意亂,不知所從。 乃往見太卜鄭詹尹曰:
-”
余有所疑,原因先生決之。詹尹乃端策拂龜曰:
-”
將何以教之?
屈原曰:
-”
吾寧悃悃款款,朴以忠乎? 將送往勞來,斯無窮乎? 寧誅鋤草茅,以力耕乎? 將游大人,以成名乎? 寧正言不諱,以危身乎? 將從俗富貴,以媮生乎? 寧超然高舉,以保真乎? 將哫訾栗斯,喔咿嚅兒,以事婦人乎? 寧廉潔正直,以自清乎? 將突梯滑稽,如脂如韋,以潔楹乎? 寧昂昂若千裡之駒乎? 將氾氾若水中之鳧乎? 與波上下,偷以全吾軀乎? 寧與騏驥亢軛乎?將隨駑馬之跡乎? 寧與黃鵠比翼乎?將興雞鹜爭食乎? 此孰吉孰凶?何去何從?
世溷濁而不清: 蟬翼為重,千鈞為輕﹔黃鐘毀棄,瓦釜雷鳴﹔ 讒人高張,賢士無名。 吁嗟默默兮,誰知吾之廉貞?
詹尹乃釋策而謝曰:
-”
夫尺有所短,寸有所長,物有所不足,智有所不明, 數有所不逮,神有所不通,用君之心,行君之意。龜策誠不能知事。 

PHIÊN ÂM 

Bốc cư

Khuất Nguyên kí phóng ,tam niên bất đắc phục kiến ,kiệt trí tận trung ,nhi tế chướng ư sàm ,tâm phiền lự loạn ,bất tri sở tòng. Nãi vãng kiến thái bốc Trịnh Thiềm Doãn viết :
– “Dư hữu sở nghi ,nguyện nhân tiên sinh quyết chi .” Thiềm Doãn nãi đoan sách phất quy viết :
– “Quân tương hà dĩ giáo chi ?”
Khuất Nguyên viết:
– “ngô ninh khổn khổn khoản khoản ,phác dĩ trung hồ ? Tương tống vãng lao lai ,tư vô cùng hồ ? Ninh tru sừ thảo mao ,dĩ lực canh hồ ? Tương du đại nhân ,dĩ thành danh hồ ? Ninh chính ngôn bất huý ,dĩ nguy thân hồ ? Tương tòng tục phú quý ,dĩ thâu sinh hồ ? Ninh siêu nhiên cao cử ,dĩ bảo chân hồ ? Tương súc tí lật ti ,ác y nhu nhi,dĩ sự phụ nhân hồ ? Ninh liêm khiết chính trực ,dĩ tự thanh hồ ? Tương đột thê hoạt kê ,như chi như vi ,dĩ hiệt doanh hồ ? Ninh ngang ngang nhược thiên lí chi câu hồ ? Tương phiếm phiếm nhược thuỷ trung chi phù hồ ? Dữ ba thượng hạ ,thâu dĩ toàn ngô khu hồ ? Ninh dữ kì kí kháng ách hồ ? tương tuỳ noa mã chi tích hồ ? Ninh dữ hoàng hộc tỉ dực hồ ? tương hưng kê vụ tranh thực hồ ? Thử thục cát thục hung ?hà khứ hà tòng ? Thế hỗn trọc nhi bất thanh: Thiền dực vi trọng ,thiên quân vi khinh ;hoàng chung huỷ khí ,ngoã phủ lôi minh ; Sàm nhân cao trương ,hiền sĩ vô danh . Hu ta mặc mặc hề ,thuỳ tri ngô chi liêm trinh ?” 
Thiềm Doãn nãi thích sách nhi tạ viết :
– “Phù xích hữu sở đoản ,thốn hữu sở trường ,vật hữu sở bất túc ,trí hữu sở bất minh , sổ hữu sở bất đãi ,thần hữu sở bất thông ,dụng quân chi tâm ,hành quân chi ý .quy sách thành bất năng tri sự .”

Tác giả – Tác phẩm

Bài nầy tương truyền cũng của Khuất Nguyên, nhưng thực tế chỉ là truyền thuyết do người nước Sở ghi lại để tưởng niệm ông sau khi ông đã qua đời.

DỊCH NGHĨA:

Bói cách cư xử
 
khuất nguyênKhuất Nguyên bị đuổi bỏ, ba năm không được gặp lại vua, tận trí tận trung mà bị lời gièm pha che lấp, lòng phiền, ý loạn, không biết nên ra ra sao, mới lại thăm quan thái bốc Trịnh Thiềm Doãn, nói:
– Tôi có điều nghi, xin tiên sinh quyết cho.
Thiềm Doãn sủa ngay lại cỏ thi, phủi mai rùa, hỏi:
– Ông muốn dạy tôi việc gì?
Khuất Nguyên đáp:
– Tôi nên khẩn khẩn, khoản khoản, thành thực để hết lòng trung chăng? Hay nên đưa đón theo đời để khỏi khốn cùng? Nên bừa giẫy cỏ lau để hết sức làm ruộng chăng? Hay nên giao du với kẻ sang để cầu danh? Nên nói thẳng chẳng kiêng nể gì để nguy thân chăng? Hay nên theo thói tục, cầu giàu sang để sống cẩu thả? Nên siêu nhiên xuất thế để giữ thiên chân chăng? Hay nên nịnh hót, khúm núm, xun xoe, gượng nói gượng cười để hầu hạ đàn bà? Nên liêm khiết, chính trực để được trong sạch chăng? Hay nên tròn trĩnh, trơn tru như mỡ, như da để được như cái cột bóng? Nên ngang tàng như con ngựa thiên lý chăng? Hay nên lênh đênh như con vịt ở trên mặt nước cùng nhấp nhô với sóng để bảo toàn lấy thân? Nên chạy đua với loài ngựa hèn? Nên cùng bay với loài chim hoàng hộc chăng? Hay nên cùng tranh ăn với gà vịt? Đường nào cát, đường nào hung? Bỏ đường nào, theo đường nào? Đời hỗn trọc mà không thanh thì cánh con ve là nặng mà nghìn cân là nhẹ; chuông vàng thì bỏ nát còn nồi đất thì kêu vang; kẻ gièm pha thì lên chân, người hiền sĩ thì vô danh.  Than ôi! Biết nói gì đây? Ai biết ta là trong sạch?
Thiềm Doãn đặt cỏ thi xuống mà tạ rằng:
– Thước có khi ngắn, mà tấc có khi dài; vật có chỗ không đủ mà trí có chỗ không sách; số có chỗ đoán không tới mà thần có chỗ không thông.  Ông cứ theo lòng ông mà làm đúng ý ông.  Cỏ thi và mai rùa thật không biết được việc ấy.
 
Nguyễn Hiến Lê dịch

 

Ngư phủ

November 28th, 2007

SỞ TỪ

漁父

屈原既放,游於江潭,行吟澤畔,顏色憔悴,形容枯槁。
漁父見而問之曰:”子非三閭大夫與!何故至於斯?”
屈原曰:”舉世皆濁我獨清,眾人皆醉我獨醒,是以見放。”
漁父曰:”聖人不凝滯於物,而能與世推移。世人皆濁,何不淈其泥而揚其波?眾人皆醉,何不餔其糟而歠其醨?何故深思高舉,自令放為?”
屈原曰:”吾聞之,新沐者必彈冠,新浴者必振衣;安能以身之察察,受物之汶汶者乎?寧赴湘流,葬於江魚之腹中。安能以皓皓之白,而蒙世俗之塵埃乎!”
漁父莞爾而笑,鼓枻而去,乃歌曰:”滄浪之水清兮,可以濯吾纓;滄浪之水濁兮,可以濯吾足。”遂去,不復與言 。

PHIÊN ÂM

Ngư phủ

Khuất Nguyên ký phóng, du ư giang đàm, hành ngâm trạch bạn,  nhan sắc tiều tuỵ, hình dung khô cảo .
Ngư phủ kiến nhi vấn chi viết: “tử phi tam lư đại phu dữ !hà cố chí ư tư ?”
Khuất Nguyên viết : “cử thế giai trọc ngã độc thanh ,chúng nhân giai tuý ngã độc tỉnh ,thị dĩ kiến phóng .”
Ngư phủ viết : “thánh nhân bất ngưng trệ ư vật ,nhi năng dữ thế thôi di. Thế nhân giai trọc, hà bất quật kì nê nhi dương kỳ ba ? Chúng nhân giai tuý, hà bất bô kì tao nhi xuyết kì ly ? Hà cố thâm tư cao cử ,tự lệnh phóng vi ?”
Khuất Nguyên viết : “ngô văn chi, tân mộc giả tất đàn quan, tân dục giả tất chấn y; an năng dĩ thân chi sát sát, thụ vật chi vấn vấn giả hồ ? Ninh phó tương lưu, táng ư giang ngư chi phúc trung, an năng dĩ hạo hạo chi bạch ,nhi mông thế tục chi trần ai hồ !”
Ngư phủ hoản nhĩ nhi tiếu ,cổ thể nhi khứ ,nãi ca viết: “Thương lãng chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trạc ngô anh; Thương lãng chi thuỷ trọc hề ,khả dĩ trạc ngô túc.”  Toại khứ ,bất phục dữ ngôn.

Tác giả – Tác phẩm:

Bài nầy là truyền thuyết do người nước Sở ghi lại để tưởng nhớ Khuất Nguyên sau khi ông đã qua đời.  Nhân vật Khuất Nguyên (340-278 trước CN) là tác giả chính của những bài “Sở từ” nổi tiếng.  Ông tên thật là Bình, người trong hoàng tộc nước Sở, học rộng, nhiều tài, nhưng bị vua ghét bỏ vì nghe lời gièm pha của kẻ xấu, buồn bã mới viết ra thiên “Ly tao” để bộc bạch nỗi lòng, sau ôm một phiến đá nhảy xuống sông Mịch La tự vận.  Còn “Sở từ” là một hình thức ca dao mới được Khuất Nguyên và một số người khác làm ra trong khoảng thế kỷ thứ III, IV trước CN trên cơ sở gia công, sáng tạo và phát triển từ những ca dao dân gian đương thời; có thể coi Sở từ là một loại văn xuôi có vần, đến đời Hán mới được tập hợp chung lại thành tập sách.

DỊCH NGHĨA:

Khuất Nguyên đã bị đuổi bỏ, thơ thẩn ở bên bờ sông bờ đầm, vừa đi vừa hát ở bên chằm, nhan sắc tiều tụy, hình dung khô héo.  Có ông lão đánh cá trông thấy, hỏi:
– Ông phải là Tam lư đại phu đấy chăng? SAo mà đến nỗi thế?
Khuất Nguyên đáp:
– Thiên hạ đều đục, một mình ta trong, thiên hạ đều say, một mình ta tỉnh, cho nên bị đuổi bỏ.
Ông lão đánh cá nói:
– Thánh nhân không câu nệ việc gì mà biết tùy thời thay đổi.  Người đời đều đục thì sao không khuấy thêm bùn, đập thêm sóng cho đục một thể? Thiên hạ đều say thì sao không ăn cả men, húp cả bã cho say một thể? Việc gì mà phải nghĩ sâu, làm khác người để bị đuổi bỏ?
Khuất Nguyên đáp;
– Tôi nghe nói, mới gội đầu tất chải mũ, mới tắm xong tất thay áo; có đâu đem cái thân trong sạch mà chịu vật nhơ nhớp được?  Thà nhảy xuống sông Tương, vùi thân trong bụng cá, chứ sao đang trắng lôm lốp mà chịu vấy bụi cát của thế tục?
Ông lão đánh cá nghe xong, mỉm cười, gõ giầm hát rằng:
Sông Thương nước chảy trong veo,
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.
Sông Thương nước đục chảy ra,
Thì ta lội xuống để mà rửa chân
“.
Hát xong, đi thẳng, không thêm một lời.

Nguyễn Hiến Lê dịch
Trung Quốc văn học sử, tập I

Next »