Archive for the 'Bách Gia Chư Tử' Category



Mâu thuẫn

April 4th, 2008

【矛盾】

 

人有鬻矛無盾者。譽其盾之堅莫能陷也。俄而又譽其矛,曰:“吾矛之利,物無不陷也”。人應曰:“以子之矛,陷子之盾,何如?”。其人弗能應也。

 Mâu thuẫn

Nhân hữu dục mâu dữ thuẫn giả. Dự kỳ thuẫn chi kiên, vật mạc năng hãm dã. Nga nhi hựu dự kỳ mâu, viết: “Ngô mâu chi lợi, vật vô bất hãm dã”. Nhân ứng viết: “Dĩ tử chi mâu, hãm tử chi thuẫn, hà như?”. Kỳ nhân phất năng ứng dã.

【Hàn Phi Tử: Thuyết lâm】

Tác giả – Tác phẩm

Bài nầy trích trong sách Hàn Phi Tử, thiên “Thuyết lâm”.

TỪ NGỮ

dục 鬻: bán
thuẫn 盾: cái mộc (để đỡ)
Dự 譽: khen ngợi, ca tụng, khoe
Hãm 陷: xuyên thấu (đâm thủng)

NGỮ PHÁP

Nga nhi俄而: chẳng mấy chốc, chẳng bao lâu (thì) (cụm từ quen dung)
Vô bất 無不: không gì không (cụm từ quen dung)
Hà như 何如: thế nào? (cụm từ quen dung để hỏi)

DỊCH NGHĨA

Mâu thuẫn

Có người bán mộc và giáo. (Anh ta) khen mộc của mình rắn (đến) không vật nào có thể đâm thủng. Chẳng bao lâu, (anh ta) lại khen cây giáo của mình rằng: “Độ bén nhọn của cây giáo tôi, không vật nào (nó) không đâm thủng”. Có người ứng lời nói: “(Anh thử) dung cây giáo của anh đâm vào mộc của anh, thì thế nào?” Người ấy không trả lời được.

 mauthuan

Trần Văn Chánh dịch

Print Friendly, PDF & Email

Mãi lý

March 23rd, 2008

【買履】

韓非子

鄭人有欲買履者。先自度其足而置之其坐。至於市而忘操之。已得履,謂曰:『吾忘持度』。返歸取之。及返市罷,遂不得履。
人曰:『何不試之以足?』。曰:『寧信度,無自信也』。

PHIÊN ÂM

Mãi lý

Trịnh nhân hữu dục mãi lý giả 。 Tiên tự đạc kì túc nhi trí chi kì tọa 。 Chí ư thị nhi vong thao chi 。 Dĩ đắc lí , vị viết :『 Ngô vong trì độ 』。 Phản quy thủ chi 。 Cập phản thị bãi , toại bất đắc lí 。 Nhân viết :『 hà bất thí chi dĩ túc ?』。 viết :『 Ninh tín độ , vô tự tín dã 』。

【Hàn Phi Tử】

Tác giả – Tác phẩm

Bài nầy trích trong thiên “Ngoại trữ thuyết tả thượng” sách Hàn Phi Tử, cũng là một ngụ ngôn phê phán tính câu nệ không biết biến thông của con người.

NGỮ PHÁP

Cập [jí]: đến khi (giới từ), and
Toại [suì]: cuối cùng, bèn (phó từ), then; thereupon –> từ trong văn ngôn 文言
Ninh 寧 [nìng]: thà (phó từ – biểu thị sự lựa chọn) prefer, rather, would rather, could be there –> từ trong văn ngôn 文言

TỪ NGỮ

Thị [shì]: chợ, market. Chữ này rất dể bị nhầm với chữ phất 巿
Trịnh [zhèng]: nước Trịnh (thời Chiến Quốc), surname
[lǚ]: giày, shoes
Đạc 度 [dù][duó]: đo (chữ này còn đọc là “độ” khi dùng như danh từ với nghĩa là “đồ đo, số đo”
Thao [cāo]: cầm, nắm, giữ, grasp; hold
Bãi [bà]: nghỉ, bãi, STOP

DỊCH NGHĨA

Mua giày

mailyCó người nước Trịnh muốn mua giày. Trước tiên tự đo lấy chân mình rồi đặt ở chỗ ngồi. Đến chợ quên cầm theo. Khi đã tìm được giày rồi, anh ta nói: “Tôi quên cầm theo ni giày”. Bèn trở về lấy ni giày. Đến khi trở lại thì chợ đã nghỉ bán, cuối cùng vẫn không mua được giày.
Có người nói: “Sao không thử giày bằng chân?”. Anh ta đáp: “Thà tin vào ni giày, chứ không tin vào (chân) mình vậy”.

 

Trần Văn Chánh dịch

Print Friendly, PDF & Email

Thủ chu đãi thố

March 19th, 2008

【守侏待兔】

韓非子  

宋人有耕田者。田中有株。兔走觸株,折頸而死。因釋其耒而守株,冀復得兔。兔不可復得,而親爲宋國笑。 

PHIÊN ÂM

thủ chu đãi thố

Tống nhân hữu canh điền giả 。 Điền trung hữu chu 。 Thố tẩu xúc chu , chiết cảnh nhi tử 。 Nhân thích kì lỗi nhi thủ chu , kí phục đắc thố 。 Thố bất khả phục đắc , nhi thân vi tống quốc tiếu 。

【Hàn Phi Tử: Ngũ đố】

Tác giả – Tác phẩm

hanfeiziHàn Phi (mất năm 233 trước CN) là công tử nước Hàn cuối thời Chiến quốc. Ông là học trò mà cũng là người phát triển tư tưởng của Tuân Tử, trở thành đại biểu xuất sắc nhất của phái Pháp gia thời Tiên Tần. Sách Hàn Phi Tử hiện còn truyền lại 55 thiên, có giá trị cả về văn chương lẫn học thuật, được coi là tác phẩm nổi bật nhất của thế giới bàn về thuật trị nước theo pháp luật. Bài ngụ ngôn ngắn trên đây phê phán tính câu nệ, không biết biến thông của con người, trích ở thiên “Ngũ đố” sách Hàn Phi Tử.

 

NGỮ PHÁP

Nhân 因 : nhân đó, vì thế (liên từ, biểu thị nguyên nhân). Ngoài ra, chữ này còn dùng theo thể 因为。。。所以
Vi 為 : bị (giới từ dùng trong câu bị động)

DỊCH NGHĨA

Giữ gốc cây đợi thỏ

Có người nước Tống cày ruộng. Trong ruộng có gốc cây. Con thỏ chạy đụng gốc cây, gãy cổ chết. Vì thế (người đó) bỏ cày của mình mà giữ gốc cây, mong lại bắt được thỏ. Nhưng thỏ thì không thể lại bắt được nữa, mà mình thì bị người nước Tống chê cười.

Trần Văn Chánh dịch

Print Friendly, PDF & Email

Khuyến học

March 15th, 2008

【勸學】

 

荀子

 

君子曰:學不可以已。青,取之于藍,而青于藍;冰,水為之,而寒于水。木 直中繩,揉以為輪,其曲中規,雖有槁暴,不復挺者,輮使之然也。故木受 繩則直,金就礪則利。君子博學而日參省乎己,則知明而行無過矣。故不登高山,不知天之高也;不臨深谿,不知地之厚也;不聞先王之遺 言,不知學問之大也。干,越,夷,貉之子,生而同聲,長而異俗,教使之然也。

 

Quân tử viết “học bất khả dĩ dĩ” Thanh thủ chi ư lam nhi thanh ư lam băng thủy vi chi nhi hàn ư thủy Mộc trực trúng thằng nhụ dĩ vi luân kì khúc trúng quy tuy hữu cảo bạo bất phục đĩnh giả nhụ sử chi nhiên dã cố mộc thụ thằng tắc trực kim tựu lệ tắc lợi quân tử bác học nhi nhật tham tỉnh hồ kỉ tắc tri minh nhi hành vô quá hĩ   cố bất đăng cao sơn bất tri thiên chi cao dã bất lâm thâm khê bất tri địa chi hậu dã bất văn tiên vương chi di ngôn bất tri học vấn chi đại dã Can Việt Di Mạch chi tử sanh nhi đồng thanh trưởng nhi dị tục giáo sử chi nhiên dã

 

吾嘗終日而思矣,不如須臾之所學也。吾嘗跂而望矣,不如登高之博見 也。登高而招,臂非加長也,而見者遠。順風而呼,聲非加疾也,而聞者彰。假輿馬者,非利足也,而致千里。假舟楫 者,非能水也,而絕江河。君子生非異也,善 假于物也。

 

Ngô thường chung nhật nhi tư hĩ bất như tu du chi sở học dã ngô thường xí nhi vọng hĩ bất như đăng cao chi bác kiến dã đăng cao nhi chiêu tí phi gia trưởng dã nhi kiến giả viễn Thuận phong nhi hô thanh phi gia tật dã nhi văn giả chương Giả dư mã giả phi lợi túc dã nhi trí thiên lí Giả chu tiếp giả phi năng thủy dã nhi tuyệt giang hà Quân tử sanh phi dị dã thiện giả ư vật dã

 

积土成山,风雨兴焉。积水成渊,蛟龙生焉。积善成德,而神明自得,圣心备 焉。故不积跬步,无以至千里;不积小流,无以成江海。骐骥一跃,不能十步;驽马十驾,功在不舍。锲而舍之,朽木不折;锲而不舍,金石可镂。蚓无爪牙之利, 筋骨之强,上食埃土,下饮黄泉,用心一也。蟹六跪而二螯,非蛇鱔 之穴无可寄托者,用心躁也。

 Tích thổ thành sơn phong vũ hưng yên Tích thủy thành uyên giao long sinh yên tích thiện thành đức nhi thần minh tự đắc thánh tâm bị yên Cố bất tích khuể bộ vô dĩ chí thiên lí bất tích tiểu lưu vô dĩ thành giang hải Kì kí nhất dược bất năng thập bộ nô mã thập giá công tại bất xả Khiết nhi xả chi hủ mộc bất chiết khiết nhi bất xả kim thạch khả lũ Dẫn vô trảo nha chi lợi cân cốt chi cường thượng thực ai thổ hạ ẩm hoàng tuyền dụng tâm nhất dã Giải lục quỵ nhi nhị ngao phi xà thiện chi huyệt vô khả kí thác giả dụng tâm táo dã 。。。

 

Tác giả – Tác phẩm

quantuTuân Tử (315 – 236 trước CN) tên thật là Huống, tự là Khanh nên còn gọi là Tuân Khanh, thầy của Lý Tư và Hàn Phi.  Tư tưởng của Tuân Tử căn bản giống Khổng Tử (về quân quyền, lễ nghĩa…) nhưng lại cực lực đả phá những học thuyết khác của Mặc Tử, Trang Tử, kể cả Mạnh Tử.  Ông chủ trương thuyết “tính ác”, ngược hẳn với thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử.
Sách Tuân Tử truyền lại cho đến nay còn 32 thiên, trong số đó chỉ có 4 thiên Thiên luận, Giải tế, Chính danh và Tính ác là được các học giả thừa nhận do chính ông viết, nhưng những thiên còn lại đều do người đời sau thêm vào.  Bài trên đây được trích từ thiên “khuyến học”, thiên đầu trong sách Tuân Tử, bàn về đường lối và mục đích học tập của người quân tử, chủ yếu dùng lối thí dụ để thuyết minh các lý lẽ.

DỊCH NGHĨA

Khuyến học
 
Người quân tử nói: “Việc học không thể dừng được”.  Màu xanh lấy ra từ cây chàm nhưng lại xanh hơn cây chàm; băng do nước tạo ra, nhưng lạnh hơn nước.  Khúc gỗ thẳng trúng với dây mực, hơ nóng cho cong để làm bánh xe; độ cong của nó hợp với khuôn tròn.  Dù có mang ra phơi cho khô cũng không làm thẳng lại được, đó là vì sự hơ cong khiến nó ra như thế vậy.  Vì thế nên gỗ nhờ dây mực mà thẳng, đao kiếm đặt vào đá mài thì bén.  Người quân tử học rộng mà mỗi ngày phải ba lần kiểm điểm lại mình thì trí tuệ mới sáng suốt và hành vi sẽ không có lỗi lầm.  Cho nên, không lên núi cao thì không biết được trời cao; không đi đến khe sâu thì không biết được đất dày.  Không nghe lời truyền lại của các bậc tiên vương thì không biết được sự rộng  lớn của việc học.  Những đứa con của nước Can, nước Việt, dân Di, dân Mạch khi sinh ra có cùng tiếng khóc như nhau, nhưng lớn lên tập tục lại khác nhau, là do sự giáo hóa khiến chúng như thế.
Ta thường suốt ngày suy nghĩ (không đâu), chẳng bằng được sự học trong khoảnh khắc.  Ta thường nhón gót để nhìn ra xa, chẳng bằng sự thấy rộng khi lên chỗ cao.  Lên cao mà vẫy tay gọi, tay không phải dài hơn, nhưng người ở xa cũng trông thấy được.  Xuôi theo chiều gió mà la lớn, âm thanh không đi nhanh hơn, nhưng người ở xa cũng nghe được rõ.  Người nhờ vào ngựa xe, không phải họ đi đường giỏi, nhưng có thể đi xa đến ngàn dặm.  Người nhờ vào thuyền, chèo, không phải là giỏi bơi lội, nhưng có thể vượt qua sông ngòi.  Tính của người quân tử không phải lạ hơn người khác, chỉ vì họ khéo nhờ vào vật ở bên ngoài mà thôi…
Gom đất thành núi, mưa gió mới nổi lên từ đó; chứa nước thành vực, giao long mới sinh ra ở đó; tích lũy điều thiện thành đức tốt, thì tinh thần mới đạt cảnh giới cao, trí tuệ mới phát triển, tư tưởng của thánh nhân mới có đủ trong đó.  Cho nên không góp những nửa bước (bước ngắn) lại thì không thể đi đến thành sông, biển.  Ngựa kỳ ngựa ký một lần nhảy không thể xa đến mười bước; ngựa hèn kéo xe đi trong mười ngày cũng lập công được nhờ chỗ đi mãi không dừng.  Khắc nửa chừng rồi bỏ thì gỗ mục cũng không khắc đứt; nếu khắc mãi không dừng, thì đá cứng cũng khắc được.  Con giun đất không có móng vuốt bén nhọn và gân cốt cứng chắc, nhưng trên thì ăn được bùn đất, dưới thì uống được nước suối vàng, là do dụng tâm của nó chuyên nhất.  Con cua có sáu ngoe và hai càng, nhưng nếu không có hang rắn hang lươn thì cũng không có chỗ gởi thân, là vì dụng tâm của nó nông nổi vậy…
 
Trần Văn Chánh dịch

Print Friendly, PDF & Email

Bốn giềng mối

March 7th, 2008

 【四維】

 

管子國有四維:一維絕則傾,二維絕則危,三維絕則覆,四維絕則滅。傾可正也,危可安也,覆可起也,滅不可復錯也!何謂四維?一曰禮,二曰義,三曰廉,四曰恥。禮,不踰節;義,不自進;廉,不蔽惡,恥,不從枉。故不踰節,則上位安;不自進,則民無巧詐;不蔽惡,則行自全;不從枉,則邪事不生。

 

Tứ duy

 

Quản Tử

Quốc hữu tứ duy : nhất duy tuyệt tắc khuynh , nhị duy tuyệt tắc nguy , tam duy tuyệt tắc phúc , tứ duy tuyệt tắc diệt 。 Khuynh khả chính dã , nguy khả an dã , phúc khả khởi dã, diệt bất khả phục thố dã ! Hà vị tứ duy ? Nhất viết lễ , nhị viết nghĩa , tam viết liêm, tứ viết sỉ 。 Lễ , bất du tiết ; nghĩa , bất tự tiến ; liêm , bất tế ác , sỉ , bất tòng uổng 。 cố bất du tiết , tắc thượng vị an ; bất tự tiến , tắc dân vô xảo trá ; bất tế ác , tắc hành tự toàn ; bất tòng uổng , tắc tà sự bất sinh 。

【Quản Tử: Mục dân】

 

Tác giả – Tác phẩm

quantrongSách Quản Tử tương truyền là tác phẩm của Quản Trọng (mất năm 645 trước CN). Tác giả tên thật là Di Ngô, tự là Trọng, người đất Dĩnh Thượng, một chính trị gia lỗi lạc đầu thời Xuân thu, từng giúp cho Tề Hoàn Công làm nên bá nghiệp. Sách Quản Tử ban đầu có đến 380 thiên, đến đời Hán được Lưu Hướng chỉnh lý còn 86 thiên (bản hiện lưu hành chỉ còn 76 thiên, mất 10 thiên). Bài nầy trích trong thiên “Mục dân”, thiên đầu tiên của sách Quản Tử, nêu bốn giềng mối làm nền tảng cho một quốc gia.

 –

 

TỪ NGỮ:

Duy: dây buộc mui xe, dây ở bốn góc lưới, giềng mối.
Tuyệt: đứt
Khuynh: nghiêng
Nguy: nguy hiểm
Phúc: lật đổ
Diệt: tắt, mất, diệt
Thố: thu xếp, xếp đặt, đặt để
Lễ: thái độ hợp với lý lẽ và phép tắc, điều lễ.
Nghĩa: hành vi chánh đáng, điều nghĩa
Liêm: trong sạch, liêm khiết
Sỉ: lòng thẹn
Du tiết: vượt khuôn phép
Tự tiến: luồn cúi để tiến thân
Uổng: cong quẹo, không ngay thẳng
Xảo trá: giả dối
Hạnh: phẩm hạnh
Tự toàn: tự nhiên toàn vẹn
: gian tà, bậy bạ

NGỮ PHÁP:

Chính 正: làm cho ngay chính (hình dung từ dùng như động từ)
Hà vị: thế nào gọi là (cụm từ quen dùng, để hỏi)
Viết: gọi là, là (động từ nội động không hoàn toàn, dùng trong một đoạn liệt kê)

DỊCH NGHĨA:

Bốn giềng mối

duyNước có bốn giềng mối: một giềng mối đứt thì nghiêng, hai giềng mối đứt thì nguy, ba giềng mối đứt thì đổ, bốn giềng mối đứt thì mất. Nghiêng thì có thể làm cho thẳng được, nguy thì có thể làm cho yên được, đổ thì có thể dựng lên được, mất thì không thể đặt lại được.
Thế nào gọi là bốn giềng mối? Một là lễ, hai là nghĩa, ba là liêm, bốn là sỉ.
Lễ là không vượt khuôn phép, nghĩa là không tự luồn lụy để tiến thân, liêm là không che việc xấu, sỉ là không theo điều tà vạy (cong quẹo bất chính). Cho nên không vượt khuôn phép thì ngôi trên yên; không luồn lụy để tiến thân thì dân không xảo trá; không che việc xấu thì phẩm hạnh tự nhiên toàn vẹn; không theo điều tà vạy thì việc bậy bạ không nảy sinh.

Trần Văn Chánh dịch

Print Friendly, PDF & Email

Tài dữ bất tài

February 20th, 2008

莊子行於山中,見大木,枝葉盛茂,伐木者止其旁而不取也。問其故。曰:無所可用。莊子曰:此木以不材得終其天年。莊子出於山,舍於故人之家。故人喜,命豎子殺雁而 享之。豎子請曰:其一能鳴,其一不能鳴,請奚殺?主人曰:殺不能鳴者。
 
明日,弟子問於莊子曰:昨日山中之木,以不材得終其天年;今主人之雁,以不材死。先生將何處?莊子笑曰:周將取乎材與不材之間。材與不材之間,似之而非也,故未免乎累。

 

PHIÊN ÂM

Trang Tử hành ư sơn trung ,kiến đại mộc ,chi diệp thịnh mậu ,phạt mộc giả chỉ kì bàng nhi bất thủ dã 。Vấn kì cố 。viết :” vô sở khả dụng 。” trang tử viết :” thử mộc dĩ bất tài đắc chung kì thiên niên 。” Trang tử xuất ư san , xá ư cố nhân chi gia 。 Cố nhân hỉ ,mệnh thụ tử sát nhạn nhi hưởng chi 。 Thụ tử thỉnh viết :” kì nhất năng minh ,kì nhất bất năng minh ,thỉnh hề sát ?” chủ nhân viết :” sát bất năng minh giả 。”
Minh nhật ,đệ tử vấn ư Trang Tử viết :” tạc nhật sơn trung chi mộc ,dĩ bất tài đắc chung kì thiên niên ;kim chủ nhân chi nhạn ,dĩ bất tài tử 。Tiên sinh tương hà xử ?”  Trang Tử tiếu viết :” Chu tương thủ hồ tài dữ bất tài chi gian 。Tài dữ bất tài chi gian ,tự chi nhi phi dã ,cố vị miễn hồ lụy 。

Tác giả – Tác phẩm

Bài nầy trích ở đoạn đầu thiên “sơn mộc” (thuộc ngoại thiên) sách Trang tử, là một ngụ ngôn về thuật xử thế: muốn khỏi lụy thân, phải vượt lên trên cả tài và bất tài, hữu dụng và vô dụng, đồng hóa với Đạo mà tiêu dao trong khoảng bất chập mọi sự khen chê.

TỪ NGỮ

Tài 材: tài năng (dùng như 才)
Phạt: chặt, đốn
Chỉ: dừng lại
Xá: nghỉ lại, ngủ lại
Thụ tử: đứa nhỏ, đứa trẻ, thằng bé
Nhạn: con nhạn (có sách giải là con ngỗng)
Hưởng: thết đãi
Chu 周: Trang Chu (Trang Tử tự xưng)

NGỮ PHÁP

: nhờ (dĩ bất tài đắc chung kỳ thiên niên)
Kỳ: đặt trước số từ trong một đoạn liệt kê (kỳ nhất năng minh, kỳ nhất bất năng minh)
Hề: gì, nào, cái gì, cái nào, người nào … (đại từ nghi vấn) (Thỉnh hề sát?)

DỊCH NGHĨA

Tài và bất tài

Trang tử đi trong núi, thấy có cây lớn cành lá sum sê. Người đốn cây dừng lại bên cạnh mà không đốn. Hỏi lý do, thì người ấy đáp: “Vì không dùng được gì cả”. Trang Tử nói: “Cây nầy nhờ bất tài mà được sống trọn tuổi trời”.
Trang Từ sau ra khỏi núi, ghé nghỉ lại nhà một người quen. Người quen mừng rỡ, gọi trẻ giết ngỗng làm thịt đãi khách. Đứa trẻ thưa: “Một con biết kêu, một con không biết kêu, xin hỏi giết con nào?”. Chủ nhân đáp: “Giết con không biết kêu”.
Hôm sau, các học trò hỏi Trang Tử: “Hôm qua, cây trong núi nhờ bất tài mà được sống trọn tuổi trời, nay con ngỗng của chủ nhà vì bất tài mà chết. Tiên sinh định ở vào chỗ nào?”. Trang Tử cười đáp: “Chu nầy sẽ ở vào khoảng giữa tài và bất tài. Giữa tài và bất tài, có vẻ giống nhau đấy nhưng lại không phải, cho nên chưa tránh khỏi lụy”.

Trần Văn Chánh dịch

Print Friendly, PDF & Email

Next »