Archive for the 'Phật thư' Category



Các nhà thư pháp thiền [3]

February 2nd, 2008

NHẤT HƯU TÔNG THUẦN

(Ikkyu Sojun 1394 – 1481)

 

image-331.jpg

 

Nhất Hưu là con không hợp pháp của hoàng đế Gokomatsu, được nuôi lớn trong một thiền viện. Sau khi sư phụ mình là thiền sư Káo (Hoa Tẩu Tông Đàm) viên tịch, năm 1284, Ikkyu bắt đầu cuộc sống du phương, từ chối việc nhận trú trì thiền viện hoặc thu nhận đệ tử. Ông phản ứng thói đạo đức giả của các vị sư bạn ông khi sư không cần giấu giếm sự ưa thích cá thịt, rượu và sắc dục. Ngay cả đối với cương vị thiền sư, thói quen của ông quả là lạ lùng. Tuy nhiên, sư có rất nhiều người ủng hộ và được cử làm vị trú trì thứ 47 của chùa Daitokuji (Đại Đức tự) khi sư đã 80 tuổi. Sư đảm nhiệm việc trông coi trùng tu toàn bộ ngôi chùa, vốn bị cháy trong cuộc chiến tranh Onin. Thiền sư Ikkyu có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của hầu hết mọi nghệ thuật thiền – thư pháp, hội họa, trà đạo, kịch nô (Noh) và vườn cảnh.

 

Những giai thoại về tính hóm hỉnh và lập dị của sư đã giữ cho sư là một nhân vật gần gũi trong sự tưởng tượng của mọi người.

 

Thư pháp của Nhất Hưu phản ánh đúng tính cách của sư – thuần phác và độc đáo với một phẩm cách khắc nghiệt, hầu như là dữ dội.

 

TAKUAN (1573 – 1645)

 

image-34.jpg

 

Cũng như Nhất Hưu, Takuan xuất gia rất sớm, du phương rất nhiều nơi, và trở thành trú trì chùa Đại Đức tự. Sư bị quấy rầy bởi các chính khách quân đội trong một thời gian, nhưng rốt cục lại thích Tướng quân Iemitsu và có rất nhiều đệ tử là Samurai.

 

Trong mọi công việc, Sư nổi tiếng với việc đặt tên cho món củ cải dầm với tác phẩm Fudoshisshim myoroku, luận giải về thiền và kiếm thuật.

 

Thư pháp của sư ít dữ dội hơn Nhất Hưu; rườm rà hơn, hơi mềm mại nhưng không thiếu phần mạnh mẽ.

 

image-7.jpg

 

BẠCH ÂN HUỆ HẠC

(Hakuin Ekaku 1685 – 1768)

 

image-36.jpg

 

image-37.jpg

Bạch Ân Huệ Hạc sinh ở quận Suruga, sư xuất gia ở một thiền viện vào năm 15 tuổi. Sư tu tập ở rất nhiều chùa trước khi trở thành trú trì Shoinji ở gần Nara. Sau đó, sư trùng tu chùa Ryutakuji ở Izu. Ngài có lẽ là nhân vật vĩ đại nhất trong tất cả các thiền sư họa sĩ, giới thư pháp thiền, và nhất là nhân vật trung tâm Tông Lâm Tế thiền tông Nhật Bản. Tông Lâm Tế, đã làm sống dậy pháp tu và lập nên hệ thống thiền công án mới.

Ngoài hội họa và thư pháp, sư còn trước tác nhiều sách và soạn nhiều bài hát bình dân. Sư sử dụng nhiều dạng thư pháp khi còn trẻ, nhưng những năm về sau, sư chuyên chú vào cách thể hiện gây ấn tượngnnhh của “nhất tự quan” (ichijikan), chỉ một chữ thật lớn cùng một bài thơ hoặc thiền ngữ với những chữ viết nhỏ hơn. Sự thành thạo riêng biệt của sư trong dạng thư pháp nầy không có ai vượt qua được.

image-381.jpg

TỪ VÂN ẨM QUANG (JIUN 1718 – 1804)

Hơn các nhà thư pháp khác, Jiun biểu tượng cho ý tưởng thư pháp linh tự (sacred calligraphy) của Đông phương. Sư là nhà nghiên cứu tiếng Sankrit đầu tiên ở Nhật Bản, lập trường học dạy thư pháp chữ Tất-Đàm. Thư pháp tiếng Hán của sư được đánh giá là kiệt tác trong thư pháp thiền. Jiun cũng là người sáng lập mộn phái Thần đạo Unden, có giáo lý chủ trương sự đồng nhất thể tính của Mật tông Phật giáo và Thần đạo.

image-39.jpg

image-40.jpg

TIÊN NHAI NGHĨA PHẠM

(SHENGAI GIBON 1750 – 1837)

image-26.jpg

image-41.jpg

Sengai, đối thủ chính của Bạch Ẩn như một họa sỹ thiền. Sinh trưởng ở vùng Mino, xuất gia vào lúc 11 tuổi, và làm tăng du phương khi 19 tuổi. Sau khi tu tập ở nhiều nơi, sư được cử trú trì chùa Shofukiji ở miền Nam Nhật Bản khi sư gần 40 tuổi. Hơn hai mươi năm sau, Sengai nghỉ ngơi và dành trọn cuộc đời còn lại cho hội họa, thư pháp và tiếp các vị khách của mình. Sư ít từ chối người xin tặng tranh hoặc thư pháp – dù rằng có một lần sư cáu tiết vì dòng thác đều đều của khách hiếu kỳ kéo đến, sư nhô đầu ra khỏi cửa và thông báo: “Hôm nay Sengai đi vắng” – thế nên sư đã sáng tác một số lượng tác phẩm đáng kể. Cũng như Bạch Ẩn, Sengai có cái nhìn hài hước về cuộc đời kết hợp với niềm ưu ái lớn lao.

image-42.jpg

a. Bổn lai vô nhất vật

b. Tâm ngoại vô pháp, mãn mục thanh sơn (Ngoài tâm chẳng có pháp, tất cả đều là núi xanh)

c. Minh viễn

Thư pháp của Sengai viết bằng chữ thảo nhưng rất rõ rành. Tính không thích khoa trương và phô diễn có thể thấy được trong nét chữ trôi chảy, tự nhiên của sư.

RYOKAN

image-8.jpg

Trở thành tăng sĩ vào khoảng lúc hai mươi tuổi và dành hai mươi năm làm một vị tăng hành cước trước khi trở về lại Echigo (nay là Nigata), quê quán của sư, một quận hẻo lánh ở miền Bắc Nhật Bản. Dù sư sống trong một cốc nhỏ ở vùng rừng núi, sư vẫn thích sự thăm viếng của dân làng, chơi banh với trẻ con, uống rượu sake với nông dân, và làm thơ cùng với bạn bè. Về già, sư phải lòng một ni cô trẻ đẹp tên Teishin.

Có lần Ryokan nói rằng ông chỉ không thích 2 cái; “Thơ của một nhà thơ và thư pháp của nhà thư pháp”. Ý sư muốn nói, dĩ nhiên, những tác phảm mang tính khoa trương của giới chuyên nghiệp. Thư pháp của sư cực kỳ tinh tế và thuần khiết, thanh nhã nhưng không hoàn toàn yếu đuối. Không may, các mẫu thư pháp của sư trở nên có giá, nên nhiều bản giả mạo khéo léo được làm ra, và người ta cho rằng phải hơn một trăm bức thư pháp ký tên “Ryokan” mới có được một bức đích thực.

SƠN CƯƠNG THIẾT CHU

(Yaomaka Tesshu 1863-1888)

image-28.jpg

Tesshu sinh ở kinh đô Edo (nay là Tokyo), nhưng lớn lên ở Takayama. Ông tuổi thiếu niên, ông đã bắt đầu tập luyện kiếm thuật, thư pháp, và thiền. Là một võ sĩ trẻ,ông trở nên có dính líu với những xáo trộn trong những ngày cuối cùng của chính phủ quânđội và ông đóng vai trò năng động trong chính trị. Sau khi Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji) phục hưng đế chế vào năm 1868, ông giữ nhiều chức vụ trong triều chính sau đó, ông trở thành thư ký và cố vấn cho Thiên hoàng năm 1877. Tesshu là một trong rất ít người có thể được công nhận là bậc thầy của cả ba môn nầy.

image-9.jpg

image-10.jpg

Phương pháp thư họa của ông có thể được diễn tả như là “không phương pháp” – ông không dựa vào bất kỳ thứ gì hoặc bất kỳ phong cách riêng biệt nào. Tuy nhiên, trước khi đạt đến trình độ nầy, ông khẳng định, ta phải hoàn chỉnh nền tảng căn bản. Những học trò mới buộc phải tập viết chữ nhất (ichi) chữ một nét, trong vòng 3 năm (những kiếm sĩ cũng phải tập đường kiếm thẳng tương tự như nét bút trong cùng một thời gian). Ông còn dành một thời khóa nhất định trong ngày cho công phu chép kinh (shakyo).

Sau khi ngộ đạo vào năm 45 tuổi, Tesshu được ấn khả từ cả hai thiền sư Asari và Tekisui, được công nhận là tổ thứ 52 của trường phái thư pháp Jubokudo (do Hoằng Pháp Đại Sư – Kobo Daishi khai sáng). Sau khi lập trường phái Vô đao (j: Muto Ryu), Tesshu mở Thiền đường Shimpukan ở Tokyo. Dù bị đau ung thư dạ dày vào 4 năm cuối cùng của đời mình, Tesshu không bao giờ bỏ công phu hành thiền mỗi ngày, và ông đã qua đời trong tư thế toạ thiền.

 

 

John Stevens

Thích Nhuận Châu dịch

Trích từ THƯ PHÁP LINH TỰ ĐÔNG PHƯƠNG

Xem thêm:

THƯ PHÁP THIỀN [1]
THƯ PHÁP TỨC LÀ NGƯỜI[2]

PHỤ LỤC

CHỮ NHẤT

Đất trời một dãy nối đường mây
Chữ nhất vô tâm lượn nét ngài
Tư tưởng tập trung thân bút lạc
Tâm hồn thư thái phượng rồng bay
Thảo chơi cũng đạt tuồng thư pháp
Viết thật lại thành chuyện khéo tay
Tâm bút dể đâu mà hợp nhất
Khi lòng còn vướng cuộc trần ai

Hoa Sơn

Xuân Mậu Tý 2008

phaononm2.gif

Print Friendly, PDF & Email

THƯ PHÁP TỨC LÀ NGƯỜI

January 20th, 2008

image-3.jpg

image.jpg

Thư pháp thực sự là bức họa của tâm; mức độ chứng ngộ được biểu hiện qua dòng chảy của mực. Khi một ai cố gắng, một cách sai lầm để xóa bỏ những chữ do Vương Hy Chi (Wang Xizhi) viết, họ đều phát hiện rằng các chữ ấy đúng là đã thấm qua gỗ. Dù có đục sâu cỡ nào, cũng khó mà xóa được chúng.
Gần đây, những nghiên cứu của Tẻayama Katsuyo đã chỉ cho thấy rằng thư pháp thiền đúng thật là “sinh động”. Ông ta thu thập những tác phẩm thư pháp thiền đích thực, những bản giả mạo, và những bản sao chép từ những tác phẩm nầy, rồi khảo sát chúng bằng kính hiển vi điện tử, phóng lớn một phần của tác phẩm chừng 500 hoặc 100 lần. Những vết mực được phóng lớn của những thư pháp đích thực thì rung động mạnh mẽ, tràn đầy khí lực (ki), thiêng liêng bí ẩn; ngược lại, các vết mực của các thư pháp giả mạo hoặc sao chép thì phân tán, yếu ớt và thiếu sinh động. Thư pháp cũ dù có trải qua hằng trăm năm vẫn như vừa mới được viết lên, những dòng chữ như đang ôm lấy người xem.
Do vì các nhà thư pháp thiền khước từ các bằng chứng khoa học, chính nội dung của thư pháp đến từ bên trong hơn là không có gì cả. Do vậy, mỗi tác phẩm là vô song, phản ánh tính vĩnh hằng từ sự rung động của nhà thư pháp với thiên nhiên, với các dụng cụ để thể hiện, và với hình ảnh còn lưu dấu trong tâm họ.

image-33.jpg

Ichi (ni) gyo môn ghi hai thiền ngữ: (hàng bên trái: bình thường tâm thị đạo  平常心之道 của Chuho (1760-1838), trú trì chùa Daitokuji; hàng bên phải: trực tâm thị đạo tràng 直心是道場 của thiền sư Kyodo (1808-1895) thuộc tông Lâm Tế)
Trong cảnh giới cao nhất, nhà thư pháp hoạt dụng trong một thế giới thuần khiết thanh tịnh; sự hợp nhất của người viết, bút, mực và giấy sẽ phá hủy mọi tương quan ràng buộc. Đó là tự do – thoát ly mọi luật lệ, mọi tiêu chuẩn, mọi quy ước. Tuy nhiên, sự chứng ngộ trong thư pháp không dễ gì dạt được mà không phải trải qua nhiều năm công phu tinh cần từ căn bản bằng cả nỗ lực của thân và tâm.

image-1.jpg

直指人心

top0605.jpg

Thư pháp thiền hoàn toàn đơn giản. Trong khi phần lớn các thư pháp trình bày trong tập sách nầy lại dựa trên hệ thống hình họa đơn giản và nhấn mạnh vào các hình thái rạch ròi, tường tận.. Thư pháp thiền cũng dò đến tận nguồn sâu thẳm, sáng rỡ của chân lý, dò đến ngôn ngữ thường ngày không bị hủy hoại bởi học thuyết duy lý và thần bí chủ nghĩa. Nó không nghi thức, không quy tắc, và rất đơn giản, chẳng có gì ngoài mực đen trên giấy trắng. Ngay cả khi đề cập đến những đề tài về ngôn ngữ bí truyền, các nhà thư pháp thiền được thẳng tắt vượt qua hệ thống biểu tượng rườm rà rắc rối, bỏ qua những giáo điều ma thuật, như bản chất thanh tịnh thuần khiết vốn có của nó.

Quan, nghĩa là cửa ải mà mọi thiền sinh phải vượt qua.  Thư pháp tác giả vô danh.

 

 

 

 

 

 

 

image-31.jpg

image-32.jpg

John Steven

Thích Nhuận Châu dịch

Trích từ Thư Pháp Linh Tự Đông Phương

Print Friendly, PDF & Email

THƯ PHÁP THIỀN [1]

January 3rd, 2008

image-47.jpg

 image-2.jpg

image-24.jpg

LỊCH SỬ

Thật khó để nói về lịch sử thư pháp Thiền; dĩ nhiên, nó liên quan với lịch sử Phật giáo Thiền nhưng không phải chỉ riêng như vậy. Có thể đồng ý với nhau rằng có thư pháp ở Trung Hoa trước khi có Thiền tông – chẳng hạn, thư pháp chữ thảo của thánh thi Vương Hy Chi (Wang Xizhi), sống vào khoảng 200 trước khi Bồ Đề Đạt Ma từ Tây Trúc sang. Ngay cả sau khi Phật giáo Thiền được truyền bá ở Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản, không phải hoàn toàn các nhà thư pháp thiền đều là người của Thiền tông.
Không có mẫu mực nào còn lưu lại từ nét vẽ Sơ tổ Thiền tông Trung Hoa (một trong số các vị tổ ấy, ngài Huệ Năng, là không biết chữ). Hai nhân vật kỳ đặc của Trung Hoa vào thế kỷ thứ 8 thường được xem là biểu tượng của thư pháp Thiền – “Zhang say” và “Sư cuồng Huai”. Sau khi nốc vào một lượng lớn rượu, Zhang tấp những chữ “cuồng thảo” lên bất kỳ chỗ nào ngay tầm tay – tường, thân cây, nồi, áo quần. Có khi anh ta nhúng đầu tóc mình vào mực rồi viết bằng đầu tóc. Cũng tương tự như vị đệ tử điên của ông ta, sư Huai, nổi tiếng với việc dùng lá chuối thay cho giấy mà sư mua không nổi. Tuy nhiên,sư lại kiếm tiền để uống rượu, và viết vào những lúc say khướt.
Thực tế các hành vi buồn cười ấy lại không được tán thành bởi phần lớn các vị trú trì của Thiền tông. Những biểu hiện thiếu nghiêm túc đều không được chấp nhận: Hầu hết các tác phẩm do các tăng sĩ Trung Hoa viết từ thế kỷ thứ 10 đến thứ 13 đều tiêu biểu cho sự nghiêm túc sâu lắng, sinh động, nhưng tao nhã và kín đáo. Các nhà thư pháp Trung Hoa có uy tín trong thơì kỳ này gồm những Nho sĩ như Tô Đông Pha và Huang Tingjian (Ko Teiken; 1045-1105); và thiền sư Yuanwu Keqin; Engo Kokugon; 1063-1135); Wujun Shifan (Bushan Shiban; 1177 – 1249), Xutang Zhiyu (kido Chigu; 1185-1296); Zhang Jizhi (Co Sokushi; 1186 – 1286); Lanqi Daolong (Rankei Doryu; 1203 – 1268); Wuxue Ziyuan (Mugaku Sogen; 1226 – 1286); Yishan Yining (Issan Ichinei: 1247 – 1371); Gulin Quingmao (Kurin Seimu; 1261 – 1323), và Liaoan Qingyu (Ryoan Seiyoku; 1288 – 1363).
Thư pháp của Eisai (1141 – 1215) và Đạo Nguyên Dogen (1200 – 1253), hai Tăng sĩ Nhật Bản khai sáng tông Lâm Tế và Tào Động nơi quê hương mình,đã có những nhét tương đồng với các bậc thầy Trung Hoa với phong cách nghiêm túc, tự chủ, và sinh động. Daito Kokushi, vị khai sơn chùa Daitokuji (Đại Đức Tự) ở Kyoto, có lẽ là người đầu tiên hoa quyện hai phong cách thư pháp Trung Hoa và Nhật Bản. Chùa Daitokuji đã tạo nên một lớp hậu duệ gồm các nhà thư pháp nổi tiếng, đến mức có thể gọi là “một trường phái” thư pháp Thiền. Trường phái thư pháp chùa Daitokuji là lâu đời nhất và đông đảo nhất. Các nhà thư pháp Nhật Bản khác được kể đến trog thời kỳ này là Muso (1276 – 1351); Kokan (1278 – 1346), Ikkyu (1349 – 1478).
Vào nửa thời gian đầu thời kỳ Edo, các nhà thư pháp sau đặc biệt nổi tiếng: Kogetsu (1571-1643); Takuan (1573-1645); và Seigan (1588-1661); tất cả  các vị ấy đều từ chùa Daitokuji; Fugai (1568-1650); Shinetsu (1642-1696) và Manzan (1636-1715) từ tông Tào Động; và Bankei (Bàn Khuê Vĩnh Trác; 1622-1693); và Munnan (d-1676) thuộc tông Lâm Tế.

image-5.jpg

image-25.jpg

 Thiền tự an trú mình giữa hai cực của khái niệm “ 無” của Munnan; và “Hữu 有” của Nyoten.  Cùng toàn thể bài kệ là dòng chữ 有如浮雲 Hữu như phù vân.

image-45.jpg

 

image-6.jpg

 

image-46.jpg

Theo sau sự sáng lập tông Hoàng Bá (Obaku) thuộc Thiền tông ở chùa Mampukuji năm 1694, một dạng thư pháp mới của Trung Hoa được truyền vào Nhật Bản.  Thư pháp của Hoàng Bá đậm hơn, mạnh hơn, thảo hơn so với thư pháp thế kỷ trước.  Không như tông Tào Động và tông Lâm Tế vốn nhanh chóng hòa nhập vào văn hóa Nhật Bản, tông Hoàng Bá vẫn giữ khoảng cách khuynh hướng Trung Hoa trong kiến trúc thiền viện, lối tu tập, thực phẩm, và thư pháp.  Trong số những nhà thư pháp trường phái Hoàng Bá là Ẩn Nguyên (Ingen), trụ trì chùa Vạn Phúc tự (Mampukuji).

image-48.jpg

Thế kỷ thứ 18 và 19 đánh dấu thời kỳ hoàng kim của thư pháp thiền Nhật Bản.  Bạch Ẩn (Hakuin 1685-1768); Jiun (1717-1804); Torei (1721-1792); Sengai (1750-1837); Ryokan (1758-1831); Nanzan (1756-1839) là những nhân vật sinh động trong thời kỳ nầy, cho ra đời một số lượng lớn các tuyệt tác.

Trong thề kỷ nầy, các thiền sư như Nantembo (1839-1925) và Gempo (1865-1961) đã thự hiện thư pháp không thua kém gì các bậc thầy đời trước.  Thư pháp ngày nay, Rohis nhiệt tâm theo đuổi và trú trì các thiền viện lớn thuộc các tông phái đều phải dành nhiều thời gian mỗi tuần để thể hiện những tác phẩm thư pháp thích hợp để đáp ứng yêu cầu của Phật tử, như món quà dành tặng cho người thân và môn đệ, hoặc để trưng bày trong những dịp lễ.  Chắc chắn một số các thư pháp dạng nầy sẽ được đánh giá rất cao bỡi các thế hệ sau khi họ biết rằng đó là tác phẩm của các nhà thư pháp thiền lớn trong thế kỷ trước.

John Stevens

Thích Nhuận Châu dịch

Trích từ THƯ PHÁP LINH TỰ ĐÔNG PHƯƠNG

PHỤ LỤC

Chinese Grass Script

This is an Example of Grass (caoshu) Script

There are different Chinese scripts. The picture below is an example of Grass Script. This rubbing was taken from an engraving of the work of Wang Xizhi ‘Vương Hy Chi’ (4th century AD), one of China’s most famous calligraphers, with whom this style is associated. Strokes could be joined and several characters written with one continuous flow of the brush, which often makes it difficult to read. Sometimes referred as “a shorthand scrawl,” whose highly abbreviated characters cannot be recognized without special study. It has a loose, swiftly flowing elegance of its own.

language-grass-script.jpg

Chinese Running or Cursive Script

This is an Example of Cursive Script.

This is an example of Cursive Script. This cursive style of calligraphy by Wen Zhengming (1470-1559) has been called “The Dance of the Brush.” It is used as a means of artistic expression: the character itself is less important than its expressive quality.

language-cursive-script1.jpg
Chinese Seal Scripts

This Example of Seal Script was used on a Zhou Dynasty Bronze Vessel.

This is an example of Seal Script. These may be thought as in some sense “drawn,” curvilinear, and with little variation in line thickness. They range from Oracle Bone writing to the Small Seal style officially adopted by the Qin Dynasty.

language-seal-script.jpg

Three Kinds of Archaic Graphs and their Transitions to Modern Characters

Top Row: Complex single-element graphs whose modern parallels are direct descendants of archaic forms.

Middle Row: Simple multiple-element graphs lacking modern equivalents.

Bottom Row: Complex multi-element graphs with either modern descendants or equivalents.

language-oracle-bone1.jpg

 

Xem tiếp:

Print Friendly, PDF & Email

Tăng

December 26th, 2007

僧者,僧伽之省稱。意為和合衆。和有六種:一戒和同修。二見和同解。三身和同住。四利和同均。五口和無諍。六意和同悦。故於僧字,實佛弟子團體之名也。一人,二人,三人皆不得稱僧,必須西人以上,乃可稱僧。僧字,乃佛弟子之團體名稱,故應固結僧團,協力護法,非分外事也。

 PINYIN

sēng zhě,sēng jiā zhī shěng chēng。yì wèi héhé zhòng。hé yǒu liù zhǒng:yī jiè hé tóng xiū。èr jiàn hé tóng jiě。sān shēn hé tóng zhù。sì lì hé tóng jūn。wǔ kǒu hé wú zhēng。liù yì hé tóng yuè。gù yú sēng zì,shí fó dìzǐ tuán tǐ zhī míng yě。

yī rén,èr rén,sān rén jiē bù dé chēng sēng,bì xū xī rén yǐ shàng,nǎi kě chēng sēng。sēng zì,nǎi fó dìzǐ zhī tuántǐ míng chēng,gù yìng gù jié sēng tuán,xié lì hù fǎ,fēi fēn wài shì yě。

PHIÊN ÂM

Tăng giả , tăng già chi tỉnh xưng . Ý vi hoà hợp chúng. Hoà hữu lục chủng :nhất, giới hoà đồng tu . Nhị, kiến hoà đồng giải . Tam, thân hoà đồng trụ . Tứ, lợi hoà đồng quân . Ngũ , khẩu hoà vô tránh . Lục, ý hoà đồng duyệt . Cố ư tăng tự , thực phật đệ tử đoàn thể chi danh dã .
Nhất nhân , nhị nhân , tam nhân giai bất đắc xưng tăng , tất tu tứ nhân dĩ thượng , nãi khả xưng tăng . Tăng tự , nãi phật đệ tử chi đoàn thể danh xưng , cố ưng cố kết tăng đoàn , hiệp lực hộ pháp , phi phân ngoại sự dã .

Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

Tác giả – Tác phẩm

Đây là bài thứ 3 trong quyển 1 sách Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư.

TỪ NGỮ

Tăng: sư nam (đàn ông đi tu đạo phật)
Tăng già: đoàn thể đệ tử phật, chỉ đoàn thể các vị tì kheo, tì kheo ni, cũng như các sa di (trong nhiều trường hợp, các cư sĩ cũng được liệt vào Tăng già).
Chủng: loại
Quân: chia đều
Tránh: cãi.
Thực: thật, thực (là)(phó từ)
Cố kết: kết chặt, củng cố, đoàn kết.
Hiệp lực: hợp sức
Hộ pháp: bảo vệ chính pháp của Phật

NGỮ PHÁP

Bất đắc: không được (“bất” là phó từ, “đắc” là trợ động từ)
Tất tu: cần phải, ắt phải (phó từ)
Dĩ thượng: trở lên (cụm từ quen dùng)
Nãi: a. mới, thì mới (phó từ) ; b. là, chính là (dùng như đồng động từ trong một kết cấu định nghĩa).
Danh từ hay cụm danh từ có thể làm định ngữ để bổ nghĩa cho danh từ khác một cách trực tiếp hoặc thông qua trợ từ kết cấu 之.

DỊCH NGHĨA

Tăng, là tiếng kêu tắt của hai chữ “Tăng già” có nghĩa là “hoà hợp chúng”, ý nghĩa là một nhóm người có tánh cách hòa hơp và cùng ở chung với nhau. Hòa hợp có sáu nghĩa: Một, đồng một giới luật hoà thuận để cùng nhau tu tập; hai, sự thấy biết hòa thuận để giải thích cho nhau hiểu; ba, thân thì hòa thuận để chia đồng đều; năm, lời nói phải hòa thuận không nên cãi lẫy tranh hơn thua; sáu, tâm ý luôn luôn hòa thuận, vui vẻ tán thành ý kiến hay và tùy hỉ học hạnh tốt…
Đủ sáu nghĩa trên, mới gọi là “Tăng”. Chữ Tăng đây, chính là một danh từ chung chỉ chung cho một đoàn thể đệ tử của Phật vậy.
Một người, hai người, ba người đều không thể gọi làTăng; từ bốn người sắp lên mới được gọi là Tăng. Chữ Tăng đã là tiếng gọi chung cho một đoàn thể đệ tử của Phật, thì lẽ tất nhiên ta phải củng cố đoàn kết Tăng già, hiệp lực hộ pháp, không phải là việc ngoài bổn phận vậy.

Thích Hành Trụ dịch

Print Friendly, PDF & Email

Pháp

December 20th, 2007

PHÁP

法,即法則。世閒一切萬物,皆有定理,皆有軌範。人類亦然,其法尤周密。故各國聖人,皆有使人行入正軌之法,如禮教,法律,規約等是也。我佛世尊所說之法,雖不止此,然於人生法,亦大致相同。其尤要者,是在教吾人守五戒,行八正道,以不失人格,故人應當學佛法。

PHIÊN ÂM

Pháp ,tức pháp tắc . Thế gian nhất thiết vạn vật , giai hữu định lí , giai hữu quỹ phạm . Nhân loại diệc nhiên , kì pháp vưu chu mật . Cố các quốc thánh nhân , giai hữu sử nhân hành nhập chính quỹ chi pháp , như lễ giáo , pháp luật , quy ước đẳng thị dã .
Ngã phật thế tôn sở thuyết chi pháp , tuy bất chỉ thử , nhiên ư nhân sinh pháp , diệc đại trí tương đồng . Kì vưu yếu giả , thị tại giáo ngô nhân thủ ngũ giới , hành bát chính đạo , dĩ bất thất nhân cách , cố nhân ưng đương học phật pháp .

Tác giả – Tác phẩm

Đây là bài thứ hai trong quyển 1 sách Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

TỪ NGỮ

Định lý: lý lẽ nhất định, định lý
Quỹ phạm: mẫu mực, tiêu chuẩn, khuôn phép, phép tắc
Chu mật: tỉ mỉ, chu đáo
Chính quỹ: đường chính, đường đúng
Thế tôn: từ dùng để tôn xưng Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni
Ngũ giới: năm điều cấm của đạo Phật: sát sinh, trôm cắp, tà dâm, nói xằng, và uống rượu.
Bát chính đạo: tám con đường giải thoát khỏi bể khổ, gồm có: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, và chính định.

NGỮ PHÁP

tức: tức là, chính là
thị dã: đó là, chính là, là như thế vậy (một hình thức đảo trí tân ngữ ra trước thường dùng trong một kết cấu định nghĩa, gồm dại từ 是 và trợ từ 也 , tương đương với 是。。。也 nhưng 是 lại được đưa ra phía sau đi chung với 也
tuy bất chỉ thử: dù không chỉ (có) thế.
ư: về, đối với (giới từ)
đại trí: đại để, đại khái, về căn bản (phó từ)
kỳ vưu yếu giả: điều càng quan trọng hơn là …
ưng đương: nên, phải, cần phải (phó từ)

DỊCH NGHĨA

 

Pháp, tức là phép tắc. Tất cả muôn sự muôn vật trong thế gian này, vật nào cũng đều có lý nhất định và đều có khuôn mẫu của nó. Loài người cũng thế, nhưng khuôn phép của loài người càng chu đáo hơn. Cho nên các bực Thánh nhân trong mỗi nước, vị Thánh nhân nào cũng đều có những phương pháp làm cho con người đi vào con đường chân chánh như: lễ giáo, pháp luật và quy ước…
Còn phương pháp của đức Thế Tôn chúng ta dạy không những thế thôi, đối với phương pháp dạy người đời, chỗ đại khái cũng rất giống nhau. Nhưng chỗ cốt yếu hơn hết là dạy chúng ta mỗi người cần phải giữ gìn năm giới cấm và thực hành theo pháp “Bát chánh đạo”, để cho khỏi mất tư cách làm người, vì lẽ ấy chúng ta cần phải học Phật pháp.

 

Thích Hành Trụ dịch

Xem thêmPhật

Print Friendly, PDF & Email

Phật

December 5th, 2007

佛者,佛陀之省稱。是覺悟自心,救 度衆生,達到圓满者之德號。如中国之尊稱孔子為聖人一樣,有歷史,有事實。而其智蕙能力尤大,所以尊稱為佛。

佛之智慧,是專為破除貪,瞋遲,慢等煩腦。佛之能力,確能使一切衆生,離一切苦,得究竟樂,故吾人當立志學佛。

Phật giả, phật đà chi tỉnh xưng. Thị giác ngộ tự tâm, cứu độ chúng sinh, đạt đáo viên mãn giả chi đức hiệu. Như trung quốc chi tôn xưng khổng tử vi thánh nhân nhất dạng, hữu lịch sử, hữu sự thực. Nhi kì trí huệ năng lực vưu đại, sở dĩ tôn xưng vi phật.
Phật chi trí tuệ, thị chuyên vi phá trừ tham,sân si, mạn đẳng phiền não. Phật chi năng lực, xác năng sử nhất thiết chúng sinh, li nhất thiết khổ, đắc cứu cánh lạc, cố ngô nhân đương lập chí học phật .

Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

Tác giả-Tác phẩm

Bài nầy là bài đầu tiên trong sách Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư do Thiện Nhân (Trung Quốc) biên soạn, là một quyển sách được soạn bằng chữ Hán cho những người bước đầu học Phật, với lời văn và câu chữ dễ hiểu; hiện tại nước Việt Nam có bản dịch của Tỳ kheo Thích Hành Trụ (1904-1984). Trên đây là bài đầu tiên trong quyển 1.

Từ Ngữ:

Tỉnh xưng 省稱: gọi tắt
Giác ngộ 覺悟 [juéwù]: tỉnh thức, giác ngộ
Tự tâm 自心: cái tâm của mình, tự tâm
Cứu độ 救 度 [[jiùdù]]: cứu và giúp cho vượt qua bể khổ
Chúng sinh 衆生 : các loài có sự sống và có cảm giác
Viên mãn 圓满: trọn đầy, đầy đủ
Đức hiệu 德號: danh hiệu tốt đẹp
Tôn xưng 尊稱 [zūnchēng]: gọi một cách kính trọng
Trí huệ 智蕙: sự sáng suốt, trí sáng, cũng đọc là “trí tuệ”; có hai loại trí: trí hiểu biết và trí xuất thế, đống nghĩa với bát nhã
Phá trừ 破除 [pòchú]: trừ bỏ, phá bỏ
Tham, sân, si, mạn 貪,瞋,遲,慢: tham lam, giận giữ, si mê, và kiêu ngạo
Phiền não 煩腦: buồn phiền, phiền não (đặc tính của tâm thức sinh ra các pháp bất thiện, làm con người bị vướng mãi trong luân hồi)
Nhất thiết 一切 [yīqiè]: tất cả, mọi
Cứu cánh 究竟 [jiūjìng]: kết quả hoặc mục đích sau cùng muốn đạt tới
Ngô nhân 吾人 [wúrén]: chúng ta
Học phật 學佛 : nghiên cứu phật pháp

buddha_thuphap.jpg

Ngữ Pháp:

如。。。一樣 (như … nhất dạng): y như… (dùng trong kết cấu so sánh, thông dụng trong văn bạch thoại)
尤[yóu](vưu): càng…hơn: 尤大 (Vưu đại)
專(S专) [zhuān]: chuyên, riêng để, chỉ (phó từ)
等[děng] (đẳng): các thứ, những người (như) (thuộc trợ từ dùng trong một đoạn liệt kê)

DỊCH NGHĨA:

 

Phật, tiếng kêu tắt của hai chữ “Phật đà” tức là đưc hiệu của bậc đã Giác ngộ nơi tự tâm và cứu độ mọi loài đạt đến quả viên mãn.
Cùng một cách như dân tộc Trung Hoa tôn xưng đức Khổng Tử là một bực thánh nhân, có lịch sử, có sự thật. Song trí huệ và năng lực của Phật thì lớn hơn, cho nên chúng ta tôn xưng là Phật.
Trí huệ của Phật, mục đích phá trừ bao nhiêu phiền não: tham, sân, si, và mạn v.v…
Năng lực của Phật quyết làmcho tất cả mọi loài, xa lìa tất cả khổ, hoàn toàn an hưởng những sự vui, vì lẽ ấy chúng ta cần phải lập chí học Phật.

Thích Hành Trụ dịch

lotus01.gif

Print Friendly, PDF & Email