Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 14
  1. #1
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default 24 tấm gương Hiếu Thảo

    NHỊ THẬP TỨ HIẾU
    Lư Văn Phức



    • Tiểu sử cụ Lư Văn Phức:
    Cụ Lư văn Phức tự là Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, người làng Hồ Khẩu, hiệu Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Nội ngày xưa, thuộc Đại Lư Hoàn Long, ngoại thành Hà Nội.

    Cụ là bậc túc nho, văn học uyên bác, đỗ cử nhân khoa Kỷ Măo triều Gia Long thứ 18 (1819) , làm quan luôn ba triều : Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức.

    Khoảng năm Tân Sửu, Thiệu Trị nguyên niên (1841), sung chức chánh sứ sang Tàu và nhiều lần được cử đi phái bộ các nước lân-cận với nước ta. Mỗi lần đi đâu về, cụ đều có soạn thành bút kư hay thi tập.

    Năm Canh Dần, Minh Mệnh thứ 11 (1830), đi phái bộ Tiểu Tây Dương, cụ soạn tập "Tây hành kiến văn lục hay Kỷ lược".

    Hai năm Quư Tỵ và Giáp Ngọ, Minh Mệnh thứ 14, 15 đi phái bộ Tân Gia Ba (Singapour); Lữ Tống (Lucon) Quảng Đông, cụ soạn hai tập "Việt Hành Ngâm hoặc Thi Thảo" và "Việt Hành Tục Ngâm". Khi đi Áo Môn (Macao), cụ soạn tập "Kinh Hải Tục Ngâm".

    Ngoài ra cụ c̣n có mấy bộ bằng quốc âm: "Phụ Châm Tiện Lăm", "Tự Thuật Kư", "Bất Phong Lưu Truyện", "Sứ Tŕnh Tiện Lăm Khúc" và bản "Nhị Thập Tứ Hiếu" này.


    • Lược truyện 24 hiếu tử:

      1.- NGU THUẤN
    Vua Thuấn họ Diêu, tên hiệu là Thuấn, quốc hiệu là Đại Ngu, cha là Cổ Tẩu, (có mắt cũng như mù, v́ không biết kẻ hay người dở, người đời bấy giờ mới tặng cho tên là Cổ Tẩu), mẹ đẻ mất sớm, mẹ kế là người ương gàn, em (cùng cha khác mẹ) là Tượng, tính lại hỗn xược, cha và mẹ kế cùng em ngày ngày chỉ kiếm cách để giết ngài đi; nhưng ngài vẫn một ḷng trên hiếu với cha mẹ, dưới ḥa cùng em, ḷng hiếu cảm động đến trời, như khi cha ngài bắt ngài cày ruộng một ḿnh ở núi Lịch Sơn, th́ voi về cày ruộng, chim về nhặt cỏ. Khi sai ngài dánh cá ở hồ Lôi Trạch th́ gió lặng sóng yên. Vua Nghiêu nghe tiếng, gọi gả hai con gái cho ngài và truyền ngôi cho ngài. Khi ngài làm vua, trong 18 năm chỉ ngồi gảy đàn, hát khúc Nam Phong mà thiên Hạ rất thái b́nh thịnh trị .

    - Thơ:


    • Đội đội canh điền tượng,
      Phân phân vân thảo cầm.
      Phụ Nghiêu đăng báo vị,
      Hiếu cảm động thiên tâm.
    - Giải nghĩa đen:


    • Hàng đàn voi về cày ruộng,
      Hàng bày chim đến nhặt cỏ.
      Giúp vua Nghiêu lên ngôi báu,
      Ḷng hiếu thảo động đến trời.
    - Dịch nôm:


    • Voi về cày ruộng hàng bày,
      Chim về nhặt cỏ hàng ngàn không ngơi.
      Giúp vua Nghiêu, nối ngôi trời,
      Cho hay hiếu cảm động vời cao xanh.

    • V
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  2. #2
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    2.- VĂN ĐẾ

    Vua Văn Đế nhà Hán, tên là Hằng, con thứ vua Hán Cao Tổ, em vua Huệ Đế, mẹ là Bạc Hậu (vợ lẽ vua Hán Cao Tổ), trước phong là Đại Vương, tức là thân vương ở đất Đại bên ngoài, tính rất hiếu, sau Huệ Đế chết không có con nối nghiệp, các quan trong triều đón ngài về làm vua. Khi ngài đă làm vua rồi, Bạc Hậu bị ốm trong ba năm trời, ngài lúc nào cũng đóng mũ áo đai cân đứng hầu mẹ, thức suốt đêm không dám ngủ, thuốc thang dâng đến, ngài tự nếm trước rồi mới dâng cho mẹ xơi, v́ sợ có thuốc độc. Dân gian thấy ngài hiếu thảo như thế, ai cũng bắt chước, mọi người đều hiếu thảo cả, thiên hạ rất thịnh trị, không kém ǵ đời tam đại (nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu) ngày xưa.

    - Thơ:


    • Nhân hiếu lâm thiên hạ,
      Nguy nguy quán bách vương.
      Hán đ́nh sự hiền mẫu,
      Thang dược tất tiên thường.
    - Giải nghĩa đen:


    • Lấy đạo nhân hiếu dạy bảo thiên hạ,
      Công cao hơn cả trăm vua khác.
      Phụng dưỡng mẹ hiền ở công đ́nh nhà Hán,
      Thuốc thang phải tự nếm trước.
    - Dịch nôm:


    • Đem ḷng nhân hiếu dạy dân,
      So trăm vua khác có phần lại hơn.
      Khi hầu mẹ ốm thuốc thang,
      Tự ḿnh nếm trước, dưới màn mới dâng.

      3.- TĂNG TỬ
    Tăng Tử tên là Sâm, tự là Tử Dư, người ấp Vũ Thành nước Lỗ, sinh vào thời Xuân Thu, là học tṛ vào bậc giỏi của đức Khổng Tử, sau được liệt vào bậc tứ phối (bốn ông phối hưởng với đức Khổng Tử). Ông thờ cha mẹ rất hiếu, bữa ăn nào cũng có rượu thịt. Khi cha mẹ ăn xong, c̣n thừa lại món ăn, ông hỏi cha mẹ bảo để cho ai, th́ ông vâng theo lời mà cho người ấy. Một hôm ông đi vào rừng kiếm củi vắng, ở nhà có khách đến chơi, mẹ ông không biết làm thế nào cho ông về ngay, bèn cắn ngón tay ḿnh, để cho động ḷng con, quả nhiên ông ở trong rừng thấy quặn đau trong dạ, ông vội gánh củi về ngay.

    - Thơ


    • Mẫu chỉ tài phương khiết,
      Nhi tâm thống bất căm.
      Phụ tận quy vị văn,
      Cốt nhục chí t́nh thâm.
    - Giải nghĩa đen:


    • Mẹ vừa cắn ngón tay,
      Con thấy đau trong dạ.
      Vội vàng đội củi về,
      T́nh cốt nhục cảm ứng chóng như thế.
    - Dịch nôm:


    • Mong con vừa cắn ngón tay,
      Trong rừng con bỗng dạ này quặn đau.
      Vội vàng đội củi về mau,
      Cho hay cốt nhục t́nh sâu lạ thường.

      V
    Last edited by unghoadaphu; 05-08-2009 at 06:44 AM.
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  3. #3
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    4.- MẪN TỬ KHIÊN

    Tên chữ là Tổn, sinh vào đời Xuân Thu, học tṛ đức Khổng Tử, mẹ ông mất sớm, cha ông lấy người vợ sau (tức là mẹ kế) sinh được hai con. Mẹ kế đối với ông rất cay nghiệt, nhưng ông vẫn thờ cha và thờ mẹ kế rất hiếu . Mùa rét, mẹ kế cho hai con ḿnh mặc áo bông dày, cho ông mặc áo bằng hoa lau, chứ không có bông. Ông tuy thấy không đủ ấm, nhưng kgông hề nói ǵ. Một hôm ông đẩy xe cho cha đi chơi, v́ rét quá cóng tay, rời tay xe ra. Cha ông suy xét măi mới biết là ông bị mẹ kế để cho mặc rét, cha ông tức lắm định đuổi ngay người vợ kế đi, ông khóc và cố kêu van với cha, xin đừng đuổi mẹ kế, v́ rằng: có mẹ kế th́ chỉ một ḿnh ông bị rét thôi, nếu đuổi mẹ kế đi th́ cả ba anh em ông cùng phải khổ sở cả. Cha ông nghe lời ông không bỏ người vợ kế nữa. Người mẹ kế nghe biết chuyện, về sau đối đăi với ông rất tốt, thành ra một người mẹ hiền.

    - Thơ:


    • Mẫn thị hữu hiền lang,
      Hà tằng oán văn nương.
      Đường tiền lưu mẫu tại,
      Tam tử miễn phong sương.
    - Giải nghĩa đen:


    • Nhà họ Mẫn có người con hiền,
      Không bao giờ oán trách mẹ sau,
      Trước mặt bố xin cho mẹ sau ở lại,
      Để ba con khỏi phải khổ sở.
    - Dịch nôm:


    • Tử Khiên hiếu thảo t́nh sâu,
      Không hề oán trách mẹ sau nồng nàn.
      Xin cha chớ dứt dây loan,
      Cho con khỏi phải cơ hàn cả ba.


    • - Bài Mẫn Tử Khiên c̣n có một bài thơ thể song thất lục bát như sau:

      Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,
      Xót nhà huyên quạnh quẻ đă lâu.
      Thừ cha sớm viếng khuya hầu,
      Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.
      Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
      Hai em thời áo kép mền bông.
      Chẳng thương chút phận long đong,
      Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.
      Khi cha dạo theo chân xe đẩy,
      Rét căm căm nên xẩy rơi tay.
      Cha nh́n ngẫm nghĩ mới hay,
      Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.
      Gạt nước mắt chân quỳ, miệng gởi,
      Lạy cha xin xét lại nguồn cơn.
      Mẹ c̣n chịu một thân đơn,
      Mẹ đi luống để cơ hàn cả ba.
      Cha nghe nói xót xa giọt tủi,
      Mẹ nghe rồi cũng đổi ḷng xưa.
      Cho hay hiếu cảm nên chừa,
      Thấm lâu như đá chẳng từ lọ ai

    • V
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  4. #4
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    • 5.- TỬ LỘ
    Tử Lộ tên là Trọng Do, người ấp Biện, nước Lỗ, sinh vào đời Xuân Thu, là học tṛ đức Khổng Tử. Thờ cha mẹ rất hiếu, nhà nghèo, thường phải đi đội gạo đường xa trăm dặm về nuôi cha mẹ; bữa ăn không có thức ăn, phải ra vườn hái rau dền, rau muống về nấu canh cho cha mẹ ăn. Sau cha mẹ ông chết cả, ông mới đi sang nước Sở, được vua nước Sở dùng, cho làm quan sang, bổng lộc nhiều. Nghĩ đến công cha mẹ, ông lấy làm đau tủi, muốn lại được đi đội gạo và nấu canh rau để phụng dưỡng cha mẹ, th́ không được nữa.

    - Thơ:


    • Phụ mễ cung cam chỉ,
      Ninh từ bách lư lao.
      Thân hoàn thân dĩ một,
      Do niệm cựu cù lao.
    - Giải nghĩa đen:


    • Đội gạo để cung cấp cha mẹ miếng ngọt miếng bùi,
      Không nề hà đường xa trăm dặm,
      Đến lúc được sung sướng th́ cha mẹ chết rồi,
      Vẫn nhớ đến công khó nhọc của cha mẹ.
    - Dịch nôm:


    • Dốc ḷng phụng dưỡng mẹ cha,
      Đường đi đội gạo dù xa cũng gần.
      Đến khi nhẹ bước thanh vân,
      Muốn mong báo đáp, hai thân đâu c̣n?


      6.- DIỄM TỬ
    Diễm Tử sinh vào đời nhà Chu, thờ cha mẹ rất hiếu; cha mẹ tuổi già, mắt ḷa, thèm uống sữa hươu, Diễm Tử lấy da hươu khô là áo mặc, giả làm hươu con, vào rừng lân la đến gần những con hươu mẹ để vắt lấy sữa. Một hôm gặp bọn người đi săn, tưởng là hươu con, dương cung toan bắn, Diễm Tử vội bỏ lốt hươu con ra và bày tỏ cho người đi săn biết, người ấy mới thôi không bắn nữa.

    - Thơ:


    • Thân lăo tư lộc nhũ,
      Thân phi lộc b́ y.
      Nhược bất cao thanh ngữ,
      Sơn trung đới tiến quy.
    - Giải nghĩa đen:


    • Cha mẹ già thèm uống sữa hươu,
      Ḿnh mặc áo da hươu.
      Nếu không vội kêu to lên,
      Th́ bị trúng phải tên bắn ở trong núi.
    - Dịch nôm:


    • Sữa hươu tuổi tác ước ao,
      Da hươu đội lốt lần vào rừng xanh.
      Gặp người nếu chẳng kêu nhanh,
      Ắt là gặp sự chẳng lành xảy ra.


    • V
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  5. #5
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    7.- LĂO LAI TỬ

    Lăo Lai Tử người nước Sở, sinh vào đời Xuân Thu, đă 70 tuổi hăy c̣n cha mẹ. Ông thờ cha mẹ rất hiếu. Không muốn để cho cha mẹ thấy ông đă già mà lo buồn, ông thường mặc áo sặc sỡ, nhởn nhơ múa hát trước mặt cha mẹ, lại có khi ông bưng nước hầu cha mẹ, ông giả cách ngă, rồi khóc oa oa, làm như đứa trẻ lên 7 lên 3 vậy. Ư ông là cốt để làm cho cha mẹ lúc nào cũng vui vẻ trong ḷng.

    - Thơ:


    • Hư vũ học kiều sy,
      Xuân phong động thái y.
      Song thân khai khẩu tiếu,
      Hỷ sắc mă đ́nh vi.
    - Giải nghĩa đen:


    • Chơi đùa như thể trẻ em,
      Gió xuân lay động áo hoa sặc sỡ.
      Hai cha mẹ cùng mở miệng cười,
      Cảnh vui đầy cả cửa nhà.
    - Dịch nôm:


    • Chơi đùa học lối trẻ thơ,
      Thấp cao điệu múa, phất phơ áo mùi.
      Hai thân cùng nở nụ cười,
      Gió xuân đầm ấm, cảnh vui đầy nhà.


      8.- ĐỔNG VĨNH
    Đổng Vĩnh sinh vào đời Hậu Hán, nhà nghèo, tính rất hiếu, cha chết không có tiền chôn cất, phải đến một nhà giàu ở làng khác, vay tiền công dệt non, hẹn sau sẽ dệt trả 300 tấm lụa. Khi vay được tiền về chôn cất cha xong rồi, định đi đến nhà giàu để dệt trả lụa, đi được nửa đường, th́ gặp một người con gái xin kết làm vợ chồng, nhưng giao hẹn hăy cùng đi đến nhà giàu kia dệt lụa trả nợ đă, rồi mới về ăn ở cùng nhau. Khi đă dệt đủ 300 tấm lụa, trả nợ xong rồi, hai người cùng về, đến chỗ gặp nhau khi trước, th́ người con gái ấy biến mất. V́ Đổng Vĩnh có ḷng hiếu thảo cảm động đến trời. nên Trời sai tiên nữ xuống giúp.

    - Thơ:


    • Táng phụ thải khổng phương,
      Tiên cô lộ thượng phùng.
      Chức khiêm thường trái chủ,
      Hiếu cảm động phương khung.
    - Giải nghĩa đen:


    • Vay tiền để chôn cất cha,
      Giữa đường gặp nàng tiên,
      Dệt lụa trả chủ nợ,
      Ḷng hiếu cảm động đến trời.
    - Dịch nôm:


    • Vay tiền lo liệu tang cha,
      Giữa đường gặp ả tiên nga giúp cùng,
      Dệt lụa đủ, trả nợ xong,
      Cho hay hiếu thảo động ḷng trời xanh.
    V
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  6. #6
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    • 9.- QUÁCH CỰ
    Quách Cự sinh vào đời nhà Hán, cửa nhà sa sút, thờ mẹ rất hiếu. Hai vợ chồng mới sinh được một đứa con lên 3 tuổi, ông thường thấy bữa ăn mẹ ông không dám ăn no, cứ bớt lại để phần cho con ḿnh ăn, vợ chồng bàn nhau rằng : vợ chồng ḿnh đương th́ sinh đẻ, mẹ già chỉ có một lần, đă chẳng phụng dưỡng mẹ được sung túc, lại để cho con ḿnh xẻ ngọt chia bùi của mẹ, th́ không phải đạo. Bèn bàn nhau đào hố đem chôn đứa con đi; vợ cũng nghe theo lời ông. Khi đào hố mới được đâu độ 3 thước, th́ thấy có một hũ vàng, trên có chữ đề là: "hiếu tử Quách Cự, hoàng kim nhất hũ, dụng dĩ tứ nhữ". Nghĩa là: "người con hiếu là Quách Cự, một hũ vàng đây để cho mày ". Hai vợ chồng lại đem con về.

    - Thơ:


    • Quách Cự tư cung cấp,
      Mai nhi nguyện mẫu tồn.
      Hoàng kim thiên sở tứ,
      Quang thái chiếu hàn môn.
    - Giải nghĩa đen:


    • Quách Cự chỉ nghĩ việc phụng dưỡng mẹ,
      Chôn con đi mong cho mẹ sống.
      Trời cho được hũ vàng,
      Đương nghèo được nên giàu có.
    - Dịch nôm:


    • Nhà nghèo hiếu thảo dốc ḷng,
      Chôn con nuôi mẹ vợ chồng bàn nhau.
      Hũ vàng dành dưới hố sâu,
      Trời cho phút chốc nên giàu lạ thay.


      10.- KHƯƠNG THI
    Khương Thi sinh vào đời nhà Hán, vợ là Bàng thị; hai vợ chồng đều hiếu thảo cả. Mẹ chồng muốn uống nước sông, Bàng thị hàng ngày đi gánh nước ở sông xa về. Trời rét, mẹ muốn ăn gỏi cá tươi, vợ chồng cố đi t́m kiếm cho được đủ thứ đem về. Lại sợ mẹ có một ḿnh buồn, thường thường mời các bà già ở hàng xóm sang chơi với mẹ cho vui. Sau tự nhiên ở bên cạnh nhà có suối nước ngọt chảy ra, đúng như vị nước sông và ở suối ấy hàng ngày lại có hai con cá chép, đủ dùng làm gỏi ghém. Từ đấy vợ chồng không phải đi quảy nước sông và đi kiếm cá nữa.

    - Thơ:


    • Á trắc cam tuyền xuất,
      Thất triêu song lư ngư.
      Tử năng tri sự mẫu,
      Phụ cánh hiếu ư cô.
    - Giải nghĩa đen:


    • Bên nhà có suối nước ngọt chảy ra,
      Mỗi ngày có hai con cá chép.
      Con trai đă biết đạo thờ mẹ,
      Nàng dâu lại hiếu với mẹ chồng.
    - Dịch nôm:


    • Bỗng đâu suối chảy bên nhà,
      Ngày đôi cá chép nhảy ra lệ thường.
      Chồng mà lấy hiếu làm cương,
      Ắt là vợ phải noi gương theo chồng.

    • V
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  7. #7
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    11.- THÁI THUẬN

    Thái Thuận sinh vào đời nhà Hán, nhà nghèo, mồ côi cha từ thủa bé, thờ mẹ rất có hiếu. Bị năm loạn lạc kém đói, phải đi vào rừng t́m kiếm những quả dâu chín đem về ăn cho đỡ đói. T́m được quả nào chín đem để ra một bên. Gặp người tướng giặc Xích My đi qua, trông thấy hỏi: "V́ cớ ǵ để làm hai nơi như thế?" Ông trả lời: "Quả nào chín đen th́ ngọt, để riêng để biếu mẹ tôi, c̣n quả nào đỏ th́ chua, để riêng tôi ăn". Người tướng giặc khen là có hiếu, bèn truyền quân lấy ra một thúng gạo và một cái đùi trâu để tặng ông.

    - Thơ:


    • Hắc thầm phụng huyên vy,
      Đề cơ lệ măn y.
      Xích My tri hiếu thuận,
      Đẩu mễ tặng quân quy.
    - Giải nghĩa đen:


    • Quả dâu chín đen để biếu mẹ,
      Bụng đói nước mắt chảy thấm cả áo.
      Giặc Xích My biết là người có hiếu,
      Tặng cho thúng gạo mang về.
    - Dịch nôm:


    • Quả dâu đen, dành mẹ xơi,
      Ḷng cam chịu đói, lệ rơi thấm bào.
      Xích My giặc ấy cũng hào,
      Tặng cho gạo trắng một bao đem về.

      12.- ĐINH LAN
    Đinh Lan sinh vào đời nhà Hán, mồ côi cha mẹ từ lúc bé, đến khi lớn lên, nhớ ơn cha mẹ thuê thợ tạc tượng cha mẹ bằng gỗ để phụng thờ, ngày th́ dâng hai bữa cơm, tối th́ sửa soạn chăn gối, hầu hạ chăm nom như lúc cha mẹ c̣n sống vậy. Phụng thờ như thế hằng mấy mươi năm, sau người vợ ông sinh ra nản ḷng, có một hôm người vợ lấy kim châm vào kẽ tay tượng gỗ, tức th́ có máu tươi chảy ra. Đến bữa cơm, ông bưng cơm vào cúng, thấy tượng gỗ rớm rớm nước mắt, ông xét kỹ mới biết là v́ vợ ông châm kim vào tay tượng gỗ, ông tức th́ đuổi bỏ ngay người vợ ấy đi.

    - Thơ:


    • Khắc mộc vi phụ mẫu,
      H́nh dưng tại nhật thần.
      Kư ngôn chư tứ điệt,
      Các yếu hiếu song thân.
    - Giải nghĩa đen:


    • Tạc gỗ làm tượng cha mẹ,
      Thờ phượng giống như lúc c̣n sống.
      Nhắn bảo các con cháu,
      Ai ai cũng nên hiếu với cha mẹ cả.
    - Dịch nôm:


    • Tạc h́nh cha mẹ như y,
      Đem ngày thờ phụng tựa khi sinh thời,
      Nhắn khuyên con trẻ mấy lời,
      Làm con phải hiếu, ai ơi ghi ḷng.
    V
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  8. #8
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    • 13.- LỤC TÍCH
    Lục Tích sinh vào đời Đông Hán, mới lên 6 tuổi, đă biết hiếu thảo. Có một hôm theo cha sang quận Cửu giang với Viên Thuật; Thuật làm tiệc thết đăi. Tích thấy trong tiệc có quít ngon, bèn lấy dấu 2 quả bỏ vào tay áo, khi ra về cúi chào Viên Thuật không may quít ở trong tay áo rơi ra, Thuật nói đùa: "Sao lấy quít dấu như thế?" Tích trả lời: "V́ mẹ tôi thích ăn quít, nhân thấy quít ngon, dấu đi vài quả đem về biếu mẹ tôi". Thuật khen là người có hiếu.

    - Thơ:


    • Hiếu đễ giai thiên tính,
      Nhân gian lục tuế nhi.
      Tụ trung hoài lục quất,
      Dị mậu sự kham kỳ.
    - Giải nghĩa đen:


    • Ḷng hiếu đễ do trời phú tính cho,
      Đứa trẻ con lên 6 tuổi trong thế gian này.
      Dấu quít vào trong tay áo,
      Đem về biếu mẹ cũng đáng lấy làm lạ.
    - Dịch nôm:


    • Cho hay phú giữ thiên chân,
      Lên sáu tuổi, biết hiếu thân mới kỳ,.
      Quít ngon mấy quả dấu đi,
      Đem về biếu mẹ, những th́ ước ao.


      14.- GIANG CÁCH
    Giang Cách sinh vào đời nhà Hán, mồ côi cha từ lúc bé, thờ mẹ rất hiếu, nhà nghèo, gặp buổi loạn lạc, cơng mẹ đi lánh nạn, giữa đường gặp bọn giặc toan bắt ông đi, Ông khóc van với giặc nói là ông c̣n mẹ già, chỉ có hai mẹ con nương tựa nhau, nay bị bắt đi, th́ không có ai nuôi mẹ già. Bọn giặc nghĩ thương t́nh, tha không bắt ông đi nữa, Ông cơng mẹ chạy về Hạ b́, rồi ông cố sức làm thuê làm mướn, cũng nuôi mẹ được no đủ qua cơn loạn lạc.

    - Thơ:


    • Phụ mẫu đào nguy gian,
      Trung đồ tặc phạm tần.
      Ai cầu câu hoạch miễu,
      Dung lực dĩ cung thân.
    - Giải nghĩa đen:


    • Cơng mẹ đi tránh nạn,
      Giữa đường gặp giặc bắt luôn luôn.
      Kêu van đều được tha,
      Cố sức làm thuê để nuôi mẹ.
    - Dịch nôm:


    • Tránh nàn cơng mẹ gian truân,
      Giữa đường gặp giặc toan phần bắt đi,
      Giăi t́nh van lạy nằn ń,
      Thoát ṿng loạn lạc, tới khi yên lành.
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  9. #9
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    15.- HOÀNG HƯƠNG

    Hoàng Hương sinh vào đời Đông Hán, năm lên chín tuổi mẹ chết, thương khóc thảm thiết, trong làng ai cũng khen là người có hiếu. Ở với cha, sớm khuya hầu hạ, không lúc nào rời, mùa đông th́ nằm ủ vào chăn chiếu của cha để lấy hơi nóng của ḿnh vào chăn chiếu cho cha khỏi lạnh, mùa hè th́ lấy quạt quạt màn gối của cha cho hết hơi nóng, v́ thế cha lúc nào cũng được vui vẻ, quanh năm không biết có mùa đông mùa hè. Quan thái thú quận ấy thấy Hương là người hiếu thảo, làm sớ tâu lên vua Hán ban cho Hương tấm biển chữ vàng là người con hiếu hạnh.

    - Thơ:


    • Đông nhật ôn khâm noăn,
      Viên thiên phiến chẩm lương.
      Nhi đồng tri tử chức,
      Thiên cổ nhất Hoàng Hương.
    - Giải nghĩa đen:


    • Mùa đông th́ ủ cho ấm chăn,
      Mùa nực th́ quạt cho mát gối.
      Trẻ thơ đă biết đạo làm con,
      Ngh́n xưa chỉ có một Hoàng Hương mà thôi.
    - Dịch nôm:


    • Đông th́ ủ ấm chiếu chăn,
      Hè th́ quạt mát mọi phần nồng oi.
      Trẻ thơ đă biết hiếu rồi,
      Ngh́n thu chỉ có một người không hai.

      16.- VƯƠNG THÔI
    Vương Thôi người nước Ngụy (đời Tam quốc) cha ông làm quan triều Ngụy, sau Tây Tấn diệt Ngụy, thống nhất thiên hạ, cha ông bị Tây Tấn giết hại, ông thương xót quá, phục ở bên mộ mà khóc măi, đến nỗi nước mắt của ông chảy ra thấm xuống gốc cây trắc bên mồ tươi lại. Cả đời ông không bao giờ ngồi ngảnh mặt về hướng tây (v́ Tây Tấn ở về phương tây ), để tỏ ư ông không làm tôi nhà Tây Tấn. Mẹ ông lúc sinh thời hay sợ sấm, nên khi mẹ ông chết rồi, hễ khi nào mưa có sấm, ông lại ra áp mồ và khấn rằng: "Có con ở đây rồi", để cho vong hồn mẹ khỏi sợ. Ông là người tài giỏi, vua nhà Tây Tấn thường mời ra làm quan, ông nhất định không chịu ra, ở nhà mở trường dạy học, mỗi khi ông giảng sách cho học tṛ, đến thiên Lục Nga trong Kinh Thi có câu rằng : "phụ hề sinh ngă" th́ ông lại thương cha chảy nước mắt khóc. V́ thế, học tṛ cũng cảm động, bỏ thiên Lục Nga không dám đọc đến nữa,

    - Thơ:


    • Từ mẫu phạ văn lôi,
      Băng hồn túc dạ đài.
      Át hương thời nhất chấn,
      Đáo mộ nhiễu thiên hồi.
    - Giải nghĩa đen:


    • Mẹ hiền sợ nghe sấm,
      Hồn thơm nằm dưới suối vàng.
      Khi thấy có tiếng sấm động,
      Đến mồ mẹ di quanh ngh́n lần.
    - Dịch nôm:


    • Mẹ xưa tính sợ sấm vang,
      Hồn thơm ở dưới suối vàng những lo.
      Mỗi khi mưa gió sấm to,
      Thân ra ấp mộ quanh co ngh́n vàng.
    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

  10. #10
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    45
    Posts
    698
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default

    • 17.- NGÔ MĂNH
    Ngô Mănh sinh vào đời nhà Tấn, lên 8 tuổi, thờ cha mẹ rất hiếu, nhà nghèo, mùa hè nhiều muỗi, không có tiền mua màn, ông sợ cha mẹ bị muỗi đốt không ngủ được, ông cởi trần nằm cho muỗi đốt, không dám xua, sợ rằng nếu ḿnh xua đi th́ muỗi lại đến đốt cha mẹ chăng?

    - Thơ:


    • Hạ dạ vô văn trướng,
      Văn đa bất cảm huy.
      Tứ cừ băo cao huyết,
      Miễn sử nhập thân vi.
    - Giải nghĩa đen:


    • Đêm mùa hè không có màn,
      Muỗi nhiều không dám xua.
      Cho nó đốt no máu của ḿnh,
      Để nó khỏi đến chỗ cha mẹ nằm.
    - Dịch nôm:


    • Đêm hè lắm muỗi không màn,
      Tha hồ muỗi đến hàng đàn vo ve.
      Trần ḿnh cho muỗi no nê,
      Hai thân được ổn giấc ḥe là hơn.


      18.- VƯƠNG TƯỜNG
    Vương Tường sinh vào đời nhà Tấn, mẹ chết sớm, ở với cha, bị mẹ kế cay nghiệt, ngày thường xui dục, làm cho cha ông ghét bỏ ông, nhưng ông vẫn dốc ḷng hiếu thảo với cha và mẹ kế. Mùa đông nước đóng váng, mẹ kế muốn ăn cá tươi, ông cởi trần nằm trên váng nước, để t́m cá, bỗng tự nhiên váng nước nứt đôi ra, có hai con cá chép nhảy lên, ông đem về cho mẹ kế xơi. Thấy ông hiếu thảo như thế, sau cha và mẹ kế ông cảm động, lại yêu quư ông lắm.

    - Thơ:


    • Kế mẫu nhân gian hữu,
      Vương Tường thiên hạ vô.
      Chí kim hà thượng thủy,
      Nhất phiến ngọa băng vô.
    - Giải nghĩa đen:


    • Mẹ kế th́ nhân gian thường có,
      Hiếu như Vương Tường th́ thiên hạ không có ai.
      Đến bây giờ ở trên sông,
      Chả có ai nằm trần ḿnh trên váng nước cả.
    - Dịch nôm:


    • Nhân gian mẹ kế là thường,
      Ḷng con hiếu tựa Vương Tường có đâu!
      Gẫm xem từ đấy về sau,
      Thân nằm trên váng nước sâu mấy người.

    Mấy hôm đi miết quên đàng
    Bây giờ trở lại rộn ràng người quen - thơ Battai

Similar Threads

  1. Thân mến chào tất cả mọi người tại HoaSonTrang! :) :)
    By Angelique in forum Kết Bạn Bốn Phương
    Replies: 10
    Last Post: 03-05-2008, 12:01 PM
  2. [Video] Soupe nấm tuyết nấu cua
    By Hoason in forum Danh mục
    Replies: 0
    Last Post: 09-10-2006, 10:02 AM
  3. VDN thân mến chào tất cả ACE Tân HST
    By VietDuongNhan in forum Kết Bạn Bốn Phương
    Replies: 50
    Last Post: 08-07-2006, 11:15 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •