Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 20
  1. #1

    Trang Thơ Hát Nói của Trần Nhất Lang


  2. #2
    HÁT NÓI

    Trích trong sách “Việt nam Văn Học Sử Yếu” của Dương Quảng Hàm
    N. N sưu tầm



    Hát nói là một trong các lối hát ả-đào hay đào nương-ca. Hát ả - đào gốm những lối ca trù do đào-nương (hoặc cô đào) hát, đối với lối hát trai hay Hà-nam do giáp-công (hoặc kép) hát.
    Hát ả - đào kể có nhiều lối như dâng hương,giáo trống, gửi thư, thét nhạc… Nhưng chỉ có lối hát nói là thông dụng nhất là có văn chương lư-thú nhất.
    Hát nói có thể coi là một biến thể của hai thể lục bát và song thất.


    Đủ khổ, dôi khổ và thiếu khổ,- Mỗi bài hát nói chia làm nhiều đoạn gọi là khổ bài. Mỗi khổ có bốn câu, trừ khổ cuối chỉ có ba câu.







    Theo số khổ, hát nói chia làm ba thể:

    1. Đủ khổ là những bài có ba khổ (khổ đầu 4 câu, khổ giữa 4 câu, khổ xếp 3 câu) cộng là 11 câu. Thế này là chính thức.
    2. Dôi khổ là những bài có hơn ba khổ (khổ dôi ra là khổ giữa).
    3. Thiếu khổ là những bài thiếu một khổ (thường là khổ giữa) chỉ có 7 câu.

    Hai thể sau là biến thức.

    I. Đủ khổ
    Các câu trong bài đủ khổ: theo tiếng nhà nghề, 11 câu trong bài đủ khổ có tên riêng là :
    - khổ đầu: hai câu 1 – 2 là lá đầu, hai câu 3 – 4 là xuyên thưa.
    - Khổ giữa: hai câu 5-6 là thơ, hai câu 7-8 là xuyên mau.
    - Khổ xếp: câu 9 là dồn, câu 10 là xếp, câu 11 là keo.

    Số chữ trong câu hát nói: số chữ không nhất định , thường đặt những câu 7,8 chữ, nhưng có khi đặt những câu ngắn hơn chỉ có 4,5 chữ, hoặc dài tới 12,13 chữ.
    Duy có câu cuối bao giờ cũng đặt 6 chữ và hai câu 5-6 đặt thành hai câu thơ th́ phải theo thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Nhưng hai câu 5-6 không đặt theo thể thơ và có số chữ so le cũng được. Thí dụ (hai câu 5-6 trong bài Rơ mặt tu mi của Nguyễn Công Trứ):


    Đố kỵ sá chi con tạo
    Nợ tang bồng quyết trả cho xong.

    Cách gieo vần trong bài hát nói:





    Cách gieo vần phải theo các lệ sau này:


    1. Trong bài hát nói, dùng cả hai thứ vần: vầng bằng và vần trắc. Khi nào trong một câu đang vần bằng đổi sang vần trắc hoặc trả lại thế th́ vừa có yêu vận và cước vận. những câu ấy là các câu chẵn, trừ câu thứ sáu là câu thơ nên chỉ có cước vận thôi.
    2. Trong mỗi khổ, cước vận của câu đầu và câu cuối phải dùng tiếng trắc, cước vận của hai câu giữa phải dùng tiếng bằng. c̣n yêu vận của câu thứ hai th́ phải dùng tiếng trắc mà của câu thứ tư th́ dùng tiếng bằng để có thể chuyển vần trắc sang vần bằng hoặc vần bằng sang vần trắc được.
    3. yêu vận gieo vào chữ cuối đoạn thứ nh́ (về sự chia đoạn, xem rơ mục sau).

    Luật bằng trắc trong các bài hát nói. - Đại khái luật bằng trắc các câu trong mỗi khổ bài hát nói là như sau (những chữ in nghiêng ) không cần theo đúng luật, theo lệ (nhất, tam, ngũ bất luận ):


    Câu thứ nhất : t t b b t t
    Câu thứ nh́ : b bt t b b
    Câu thứ ba : b b t t b b
    Câu thứ tu : t t b bt t

    Nên nhớ : Câu đầu và câu cuối theo một luật v́ hai câu ấy đều gieo vần trắc, hai câu giữa đều theo một luật v́ hai câu ấy đều gieo vần bằng.


    Lời chú

    1. Khổ xếp chỉ có ba câu th́ theo luật của ba câu đầu kể trên.
    2. Những câu 5-6 và những câu khác trong bài hát nói, nếu đặt thành câu thơ, th́ phi theo đúng luật thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
    3. Những câu 6 chữ theo đúng luật kể trên. C̣n những câu dài trên 6 chữ th́ đối với việc ứng-dụng luật ấy, phải chia làm ba đoạn con, mỗi đoạn hai chữ, hoặc 3,4 chữ hay dài hon nữa. Trong mỗi đoạn, chỉ kể chữ cuối là phi theo luật bằng trắc, trong chữ trên gác ra ngoài không kể, muốn đặt tiếng ǵ cũng đuợc.
    4. Những câu 4,5 chữ chỉ chia làm hai đoạn th́ đoạn thiếu là đoạn đầu không kể, c̣n hai đoạn cuối theo đúng luật. Thí dụ câu đầu bài Chơi thuyền Hồ Tây của Nguyễn Khuyến :

    Thuyền lan nhẹ nhẹ
    b b t t

    Câu đầu bài Cái thú say ruợu của Nguyễn Công Trứ (?)

    Say chua ? Say mới thú
    b b 0 t t


    5. Những câu lấy chữ sẵn không theo đúng luật bằng trắc.
    Thí dụ câu thứ hai của khổ xếp trong bài này Mộng sự với chân thân của Cao Bá Quát (?):
    Quân bất kiến Hoàng-hà chi thủy thiên thuợng lai.
    ( câu này là câu lấy chữ sẵn ở trong bài Tuong tiến tửu của Lư Bạch ).


    Lời chú-
    Lệ gieo vần và luật bằng trắc tuy như đả kể trên, nhưng đôi khi nhà văn không làm theo đúng hẳn cũng đuợc, miễn là câu đăt có thể hát đuợc lưu loát th́ thôi..


    Một bài hát nói có đủ khuôn khổ làm mẫu :

    Nợ nam nhi của Nguyễn Công Trứ (0= chữ gác ra ngoài luật, b = bằng; t = trắc; yv = yêu -vận; cv = cuớc-vận; (hết một đoạn)

    I :Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái.
    B b t t b b t (cv) ( theo luật thơ)

    II : Cái công danh là cái nợ nần.
    0 b b t t (yv) b b

    III : Nặng nề thay hai chữ “quân thân” !
    0 b b t t b b (cv)

    IV : Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ.
    0 t t b b (yv) 0 t t (cv)

    V : Cũng rắp điền viên vui tuế nguyệt.
    T t b b b t t (cv)

    VI : Trót đem thân- thế hẹn tang bồng.
    B b t t t b b (cv)

    VII : Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.
    0 t b t t b b (cv)

    VIII : Hết hai chữ “trinh trung” báo quốc,
    0 t t b b t t (cv)

    IX : Nghiêng ḿnh những v́ dân v́ nuớc,
    0 t t b b t t (cv)

    X : Túi kinh luân từ truớc để về sau,
    0 b b t t (yv) 0 b b (cv)

    XI : Ngh́n thu một tiếng : công hầu.
    B b t t b b (cv)

    II DÔI KHỔ

    Cách làm bài hát nói dôi khổ. - Trong những bài dôi khổ, khổ đầu, vẫn ở trên, khổ xếp vẫn ở duới, c̣n khổ giữa th́ làm dôi ra thành hai ba khổ hoặc nhiều hon nữa tùy ư. Trong những khổ dôi ra, số câu, số chữ, cách gieo vần và luật bằng trắc cung theo như các khổ chính. Thí dụ phong cảnh Huong son của Mạnh Chu Trinh ( xem phần thứ nh́, bài số 133).

    III_ THIẾU KHỔ
    Những bài khổ thiếu - một đôi khi bài hát nói thiếu hẳn đi một khổ, thuờng là khổ giữa, chỉ c̣n lại có 7 câu.
    Thí dụ :


    Tiễn biệt



    Ngán cho nỗi xoay vần thế cục
    Sum-họp này chả bơ lúc phân ly,
    Hỡi ông tơ ! Độc địa làm chi!
    Bắt kẻ ở người đi mà nỡ được!
    Thôi đă chót cùng nhau nguyện-ước,
    Duyên đôi ta chả trước th́ sau.
    Yêu nhau nhớ lấy lời nhau.



    CUNG THÚC THIỀM




    IV-MƯỠU

    Định nghĩa : Mưỡu là những câu làm theo thể loại lục bát đi kèm với hát nói, hoặc ở trên (mưỡu đầu), hoặc ở dưới (mưỡu hậu).
    Không phải bài hát nói nào cũng có mưỡu; có nhiều bài không có. Lại có bài chỉ có mưỡu đầu hoặc mưỡu cuối; có bài có cả mưỡu đầu và mưỡu cuối.

    Mưỡu đầu :

    Mưỡu đầu có thể có một cặp câu lục bát (mưỡu đơn)hoặc hai cặp câu lục bát (mưỡu kép).
    Những câu mưỡu đầu bao giờ cũng đặt trùm lên bài hát nói. Câu mưỡu cuối không phải hiệp vần với câu đầu bài hát nói. Thí dụ :


    Đồng Tiền


    Mưỡu ( đơn)

    Hôi tanh chẳng thú vị ǵ,
    Thế mà ai cũng kẻ v́, người yêu.


    Nói:

    Tạo-vật bất thị vô để sự,
    Ḅn chài ra một thứ quấy chơi.
    Đủ vuông tṛn tuợng Đất, tuợng Trời.
    Khẳm họa, phúc, nguy, yên, tử, hoạt.
    Chốn kim-môn noi tử-thát
    Mặc phao tuồng không kẻ pḥng nhàn.
    Đương om-ṣm chớp giật, sấm ran
    Nghe xốc xách, lại gió ḥa mua ngọt.
    Kẻ tài-bộ đa vào phương vận đạt,
    Không ngươi, cùng ải với cỏ cây
    Nguời yêm yêm đành một phận trầm mai
    Có gă, lại trổ ra sừng gạc.
    Dốc đáy túi, mặt Nguyễn lang ngơ-ngác,
    Trổng đầu giuờng, gan tráng-si-làu-bàu.
    Để đoàn ấm-á càu-nhàu,
    Khiến lu tài-danh vơ-vẩn.
    Khả quái tầm thuờng “a đổ vật”
    Khuớc giao đáo để đại thần linh.
    Đương đồ ai chẳng chuộng gia Huynh,
    Thù thế, kể lấy làm đệ nhất,
    Tiếng xỏng-xảnh đầy trong trời đất,
    Thần cũng thông, huống nữa là ai?
    Long đồ nghĩ cũng nực cuời.


    NGUYỄN CÔNG TRỨ


    Hồ Hoàn Kiếm

    Muỡu (kép )


    Lênh-đênh duới nuớc trên trời,
    Quanh thuyền trăng gió một vài ông thơ.
    Bút nghiên để sẵn bao giờ,
    Đề câu tuyệt-diệu c̣n nhờ tay ai?

    Nói:

    Thu phong thu nguyệt.
    Cảnh Kiếm-hồ bao xiết vẻ phong-quang,
    Soi biết bao lợi-tẩu danh-truờng,
    Ḱa vân-cẩu mảnh guong c̣n măi đó
    Nước biếc khôn t́m gương Thái-tổ
    Đá xanh hầu mốc chữ Phuong-đinh.
    Chẳng quản chi nguời chi nhục, kẻ chi vinh,
    Lấy sơn thủy hữu t́nh làm khế hữu.
    Khi b́nh hoa,khi đối tửu,
    Kho trời chung phong nguyệt của riêng ta:
    Chơi đi kẻo nữa mà già.


    HOÀNG CẢNH TUÂN


    Muỡu hậu - Muỡu hậu bao giờ cũng là muỡu đơn. Muỡu hậu thuờng đặt ở câu xếp và câu keo; nhưng cung có khi đặt ở duới câu keo, nghia là đặt hẳn xuống cuối câu bài hát nói. Nếu hai câu muỡu hậu đặt xen vào giữa câu xếp và câu keo, th́ câu lục phải ăn vần với câu xếp ở trên ở câu bát phải buông vần với câu keo ở duới bắt vào. Thí :Cầm ḱ thi tửu của Nguyễn Công Trứ (xem phần thứ nh́, bài thứ 102)
    Một số bài Nói có thể vừa có muỡu đầu vừa có muỡu hậu. Thí dụ :


    Vịnh Tiền Xích Bích

    Gió trăng chứa một thuyền đầy,
    Của kho vô tận biết ngày nào vơi.
    Ông Tô-tử qua choi xích-bích,
    Một con thuyền với một túi thơ.
    Gió hiu-hiu mặt nuớc nhu tờ,
    Trăng chênh-chếch đầu non mới ló.
    Thuyền một lá xông ngang ghềnh bạch-lộ,
    Buông chèo hoa len-lỏi chốn sơn-cương.
    Ca rằng:
    Quế chạo hề lan tương,
    Kích không minh hề tố lưu quang.
    Diểu-diểu hề du hoài,
    Vọng mi-nhân hề thiên nhất phương.
    Nguời ỷ-a réo-rắt, khúc cung thương.
    Tiếng kêu lẫn tiếng ca vang đáy nuớc.
    Sực nhớ kẻ quay ngọn giáo vịnh câu thơ thuở truớc,

    Nghi sự đời nên cảm nỗi phù-du.
    Hai kho phong nguyệt ngh́n thu hăy c̣n.
    C̣n trời, c̣n nuớc, c̣n non.

    NGUYỄN CÔNG TRỨ

    CÁC TÁC PHẨM KÊ CỨU

    1.) Phan Kế Bính, Việt hán văn khảo (sách đa kể truớc)
    2.) Uu-thiên Bùi-Kỉ, Quốc văn cụ thể: Tân Việt Nam thư-xă Hà Nội
    3.) Đông Châu, Cổ-súy nguyên-âm, cuốn thứ nh́ (sách đa kể truớc)
    4.) Ôn-như Nguyễn Văn Ngọc, Đào- nương ca, tập I, Hát nói và hát muỡu. Việt văn thư-xă, Vĩnh-hưng-long thư quán Hà Nội.
    5.) Phạm Văn Duyệt, Hát ả đao, quyển thứ nhất. Imp. Du Trung- Bắc tân- văn Hà-nội
    6.) Hoàng- tăng- Bư, Văn ca trích cẩm 200 bài hát ả đao, Tân-dân thư-quán Hà- nội.
    7.) Phạm Quỳnh, Văn chuong trong hát ả đao, P.N.t.XII số 69 tr.171-188

  3. #3


    DU XUÂN




    MƯỠU


    Du xuân ngày rộng tháng dài
    Muôn hồng ngàn tía biết ai bạn giờ ?
    Mận hỏi th́ Đào xin thưa
    Trách người không đến hững hờ hoa xuân .


    NÓI


    Ngày xuân đẹp thảnh thơi du ngoạn
    Lắm hoa xinh muôn vạn tía hồng
    Đang cợt đùa chờ đón gió đông
    Thơ với rượu, vẳng bên sông én gọi .
    Thi sĩ gieo vần t́m ư mới

    Giai nhân dạo gót ngắm trời xanh
    Dù là ai, dân giả hay bậc công, khanh

    Cũng sắm sửa hội đạp thanh nô nức
    Xuân chín chục thiều quang đưa bóng ác
    Đôi chim oanh ríu rít hót trên cành
    Vui xuân tơ liễu c̣n xanh !




    Last edited by TranNhatLang; 03-04-2015 at 05:05 PM.

  4. #4



    CẢNH ĐÀN NHẠN BAY XUỐNG BĂI CÁT . (1)




    MƯỠU



    Ḱa đâu cát phẳng một doi
    Mấy cḥm cỏ lục, loi thoi trận nhàn
    (Hoa Tiên Truyện)



    NÓI

    Ngàn Tương cát phẳng
    Trên không ḱa đàn nhạn đưa thoi
    Lớp theo đàn, lớp chậm cánh đơn côi
    Thủy triều xuống nhạn từng đôi về băi trú .
    Vàng lập ruộng thu ăn dễ đủ
    Tuyết in băi trảy chẹn thưa rồi (2)
    Cảnh thanh nhàn chim nhạn đậu bên doi
    Ḍng nước chẩy bóng chiều rơi thấp thoáng .
    Thân lữ thứ hương quan mờ khói sóng (3)
    Thương cho người lẻ bóng đèn chong
    Nơi ḷng ai biết hay không ?


    (1) Phỏng theo ư thơ bài B́nh Sa Lạc Nhạn,
    một trong 8 bài Bát Cảnh Tiêu Tương
    của danh sĩ nước ta Lương Nhữ Hộc
    vịnh 8 bức họa của Tống Địch, Trung Hoa .

    (2) Hai câu 5 & 6 lấy nguyên văn bài nguyên tác
    B́nh Sa Lạc Nhạn .
    Trảy là lúa điêu cô, chim nhạn rất thích ăn .
    Chẹn là ngăn cản .
    (3) Hương quan là cái cổng làng, thôn . Câu này ư nói
    nh́n khói sóng trên sông mà nhớ tới quê hương .
    Mượn ư hai câu cuối bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu :
    "Nhật mộ hương quan hà xứ thị
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu "
    Tản Đà dịch thơ :
    "Quê hương khuất bóng hoàng hôn
    Trên sông khói sóng thêm buồn ḷng ai ."


    Trần Nhất Lang


  5. #5



    CẢNH CHỢ CHIỀU Ở CHÂN NÚI . (1)



    MƯỠU

    Ḱa đâu mây tạnh chân ngàn
    Lưng đèo xơ xác, họp tan chợ chiều .

    (Hoa Tiên Truyện)


    NÓI

    Tám bức b́nh phong n
    úi mở
    Cảnh hoàng hôn chân núi chợ phơi bầy
    Lá xanh xanh, ánh vàng chiếu trên cây
    Rượu giữ khách, người về cá dây liễu xỏ .

    Điếm nọ cờ c̣n trương gió
    Lều kia rèm đă cuốn mây (2)

    Vẳng trên sông điệu sáo khúc Lạc Hoa Mai (3)
    Người cỡi hạc đă bay về núi thẳm .
    Trên đỉnh núi bóng chiều bảng lảng
    Chốn quê nhà vầng trăng sáng c̣n không ?
    Trăng chia hai mảnh nhớ mong ! (4)


    (1) Đây là bài Sơn Thị T́nh Lam, là bài thứ hai của
    Bát Cảnh Tiêu Tương cùng một tác giả Lương Nhữ Hộc .
    Thiết tưởng chúng ta cũng nên biết đôi nét về Tiêu Tương .
    Tiêu Tương là chỗ sông Tiêu và sông Tương hiệp lại trong
    tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa . Sông Tương phát nguyên từ
    Dương Hải Sơn (Quảng Tây) chảy qua Hồ Nam, Trường Sa,
    vào hồ Động Đ́nh. Nơi này có nhiều cảnh đẹp,
    nhà danh họa Tống Địch đă ghi lại những cảnh này trên
    tám bức họa nổi tiếng, được nhiều danh sĩ làm thơ vịnh .

    Vua Thuấn di giá đi tuần thú xứ Thương Ngô và mất ở đó .
    Hai bà vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đi t́m vua Thuấn đến
    bờ sông Tiêu Tương, cả hai ngồi bên bờ sông mà khóc,
    nước mắt vấy vào những cành trúc . Về sau trúc mọc ở
    bờ sông Tương đều lấm chấm trông như đồi mồi .
    Người ta gọi là Tương phi trúc, hay dùng làm mành cửa .
    Trong Truyện Kiều có câu :

    "Mành Tương lất phất gió đàn
    Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng t́nh".

    Và chữ giọt Tương chỉ nước mắt cũng ở điển này mà ra .

    (2) Hai câu này trích nguyên văn của nguyên tác .Đây là
    loại thơ Thất Ngôn Bát Cú cổ thể, thường có hai
    câu 6 chữ ở cặp Trạng hay cặp Luận .
    Trong cuốn Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập chúng ta thường
    thấy những bài thơ viết theo cách này .

    (3) Lạc Mai Hoa là tên một khúc sáo rất thê lương khiến
    người nghe phải chạnh nhớ tới quê hương ḿnh .

    (4) Điển này th́ dễ rồi . Trong Tuyện Kiều có câu :
    "Vầng trăng ai xẻ làm đôi
    Nửa in gối chiếc, nửa soi dậm trường".


    Trần Nhất Lang
    Last edited by TranNhatLang; 03-04-2015 at 05:06 PM.

  6. #6





    CÁNH BUỒM VỀ TỪ NƠI XA (1)



    MƯỠU


    Ḱa đâu cuối phố quạnh hiu
    Chân trời thấp thoáng con chèo về khơi .
    (Hoa Tiên Truyện)




    NÓI


    Bến liễu thuyền san sát
    Buồm xa về lớp lớp đậu bên doi
    Giây lèo căng thuận gió phương trời
    Xuyên cánh mây vượt trùng khơi sóng rẽ .
    Thuyền tách thinh thinh chèo nhẹ nhẹ

    Khói tan thức thức lục ơi ời (2)
    Sông Ngô, bể Sở từng đến thăm chơi

    Bút Ma Cật đố vẽ vời nên bức họa (3)
    Phong cảnh ấy tay thợ trời điểm hóa
    Thuyền mây sông nước đă gom cả vào đây
    Càng nh́n mà dạ thêm say !





    (1) Đây là bài Viễn Phố Quy Phàm, là bài thứ ba
    trong Bát Cảnh Tiêu Tương của Lương Nhữ Hộc .
    Viễn Phố : Là nơi bán hàng xa . C̣n có nghĩa là nơi ở xa .
    Thơ Bà Huyện Thanh Quan có câu :
    Gác mái, ngư ông về viễn phố
    Gơ sừng, mục tử lại cô thôn .


    (2) Hai câu 5&6 lấy trong bài nguyên tác .
    Tách : Là tách bến . Rời bến .
    Thinh thinh : Như thênh thênh, có nghĩa là rộng răi .
    C̣n có nghĩa là rất nhẹ .
    Thức thức : Là thứ này thứ khác . Nhiều thứ .
    Trong Truyện Kiều có câu :
    "Thời trân thức thức sẵn bầy
    Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường".
    Lục : Mầu xanh lá cây . Ư nói sau khi khói tan,
    phong cảnh hiện ra với bao nhiều cây cối xanh tươi
    cùng với mầu xanh của ṿm trời, khiến ta liên tưởng
    tới câu thơ cổ : "Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc."
    Ḍng nước thu và bầu trời (dài) cùng chung một mầu .
    Tố Như tiên sinh có câu tả cảnh rất hay, có lẽ phần
    nào ảnh hưởng câu thơ cổ này :
    "Lung linh đáy nước in trời
    Thành xây khói biếc, non phơi ánh vàng."


    (3) Ma Cật . Vương Duy tự là Ma Cật, đời Đường .
    Năm 21 tuổi thi đậu tiến sĩ, ra làm quan .
    Ông sớm từ quan về ở ẩn ở núi Chung Nam .
    Ngoài tài thơ ra, Vương Duy c̣n sành âm nhạc,
    giỏi thư pháp và hội họa . Tranh sơn thủy của ông
    mở đầu cho lối họa Nam tông .
    Vương Duy có địa vị cao trong Nam phái Thiền tông .
    Người đời gọi ông là Thi Phật .




    Trần Nhất Lang
    Thu Apr 01, 2010
    Last edited by TranNhatLang; 03-04-2015 at 05:08 PM.

  7. #7





    TIẾNG VẠC ĐÊM SƯƠNG




    MƯỠU


    Vẳng nghe tiếng vạc kêu sương
    Bể dâu mấy độ tang thương mấy lần .





    NÓI


    Mù sương phố núi
    Một người xưa đi dưới bóng chiều rơi
    Mười lăm năm bao vật đổi sao dời (*)
    Nghe đâu đó tiếng vạc Hời kêu đêm vắng .
    Đời vương mộng áo xanh mây trắng


    Thơ đọng sầu ḍng thắm gối khuya
    Dấu ruộng dâu biển cả hăy c̣n kia

    Tranh vân cẩu vẫn hiện về theo mây xám .
    Giấc mộng lớn một mầu ảm đạm (**)
    Chưa suy tàn ai dám nói bền lâu
    Cổ kim mấy băi nương dâu !



    (*) Năm 1990 tác giả lên thăm thành phố Đà Lạt .


    (**) Phỏng theo ư thơ của Lư Bạch trong bài
    Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí .


    "Xử thế nhược đại mộng"


    Dịch nghĩa : Cuộc đời giống như giấc mộng lớn .



    Trần Nhất Lang
    Sun Mar 21, 2010




  8. #8



    THĂM GIẾNG NGỌC TRÊN NÚI .


    MƯỠU

    Nhớ xưa thăm giếng trên đèo
    Rừng hoa chim hót, thác gieo tiếng đàn .


    NÓI


    Rủ nhau thăm Giếng Núi
    Một đoàn người dắt díu nối đuôi leo
    Thăm giếng Ngọc xa măi tận đỉnh đèo
    Xe giây cáp cheo leo qua núi lửa .

    Đáy giếng lung linh trời lật ngửa
    Cỏ rêu lún phún nước trong veo

    Qua đồi hoa chim hót gió ngàn reo
    Đường khúc khuỷu giọt sương gieo cành liễu .
    Nào thi sĩ, giai nhân yểu điệu
    Nắng hồng lên rọi chiếu bước cầu treo
    M
    ăi vui dốc mấy cũng trèo .


    Trần Nhất Lang
    Thu Mar 25, 2010

  9. #9



    NGƯỜI VỀ KẺ Ở



    MƯỠU

    Người ơi, người ở đừng về
    Để cho nguyệt gác hoa lê tủi hờn
    Tương tư chết nửa tâm hồn
    Môi son phai nhạt, lệ tuôn má đào .




    NÓI


    Người về, kẻ ở
    Suốt năm canh cứ nhớ nhớ, thương thương
    Buổi hôm nao chia chén rượu đêm trường
    Giục tiếng trống bên tường, gà báo gọi .

    Bứt rứt nhẽ trăm tơ ngàn mối
    Băn khoăn lời một chốn hai nơi

    Trót đa mang tiếng hát giọng cười
    Một ngày nên nghĩa cũng là người tri kỷ .
    Không nỡ bước phút phân kỳ buồn tẻ
    Tiễn người đi mà gịng lệ đầy vơi
    Tương tư gánh nặng chàng ơi !


    Trần Nhất Lang
    Sat Mar 13, 2010

  10. #10



    NGỒI TỰA SONG ĐÀO


    MƯỠU

    Ngồi rằng ngồi tựa song đào
    Hỏi người tri kỷ ra vào có thấy vấn vương ?
    Gió lạnh suốt đêm canh trường
    Nửa chăn nửa chiếu nửa giường để đó đợi ai !
    (Quan Họ Bắc Ninh )



    NÓI

    Song đào ngồi tựa
    Đếm sao khuya mà nhớ thương nhau
    Buổi chia tay em nghiêng nón bên cầu
    Chàng đi măi, thiếp ôm sầu gối chiếc .

    Xuân trước ngơ hoa đào sắc biếc
    Sầu trong tim má thắm mầu phai

    Đường hoa xưa thơ thẩn em dạo gót hài
    Đôi tay em ngắt nhụy bông nhài mà nhớ chàng da diết
    Tiếng gà gáy đâu đây nơi điếm Nguyệt (*)
    Dấu giầy ai in tuyết ván cầu Sương (**)
    Cô đơn gió lạnh đêm trường .



    Chú thích : (*) (**) Thoát ư ở hai câu thơ cổ :
    "Kê thanh mao điếm nguyệt,
    Nhân tích bản kiều sương".
    Dịch nghĩa :
    Tiếng gà gáy nơi điếm cỏ dưới trăng,
    Vết chân người in trên cầu ván có sương ướt .

    Trong Truyện Kiều có câu :
    "Tiếng gà điếm Nguyệt, dấu giầy cầu Sương".

    Ở đây tác giả mượn ư hai câu thơ cổ này
    để tô đậm thêm cảnh quạnh hiu, thanh vắng
    trong đêm trường . TNL .


    Trần Nhất Lang
    Fri Mar 05, 2010

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •